Báo Công lý
Chủ nhật, 07/6/2020

Nhân tháng thanh niên: Sức trẻ trên cao nguyên đá

15/3/2013 14:08 UTC+7
Trong công cuộc khai mở tri thức cho đồng bào trên cao nguyên đá Đồng Văn, có một phần công sức không nhỏ của những thanh niên, sinh viên vừa mới tốt nghiệp ra trường.

 

Tuy tuổi đời còn rất trẻ, nhưng bằng niềm say mê và lòng nhiệt huyết của mình, họ đang ngày đêm góp phần đánh thức cả một vùng đất hoang vu.

3 năm cắm bản không về thăm quê        

“Mùa đông, nhiều hôm nước trong lu đông thành đá. Sáng muốn có nước đánh răng rửa mặt, phải đục đẽo cả tảng bỏ vào nồi đun lên cho nó tan ra. Nhưng, điều ám ảnh và sợ nhất đối với cánh giáo viên cắm bản như bọn em là mưa rừng. Nó rả rích, nhớp nháp cả tháng trời. Còn bão nữa, bão miền núi về nhanh như chớp. Có đêm, mưa quất ràn rạt, gió giật tứ bề, em và  mấy đứa học trò chỉ biết ôm đống sách vở, giáo án chui vào gầm bàn chờ trời sáng…”, Nguyễn Văn Thắng (SN 1983), giáo viên cắm bản ở Phú Lũng (Yên Minh, Hà Giang), đã kể với tôi về những kỷ niệm trong “cuộc trường chinh gieo chữ trên miền đá” của mình như thế. 

Thắng quê miền trung du Phú Thọ. Năm 2004, cậu tốt nghiệp cao đẳng sư phạm. Mặc mẹ già khóc hết nước mắt, mặc cô người yêu dọa “đi lấy chồng khác”, Thắng vẫn quyết tâm vác ba lô xung phong lên vùng cao dạy học. Dù đã tìm đọc qua sách báo, nhưng khi đặt chân lên mảnh đất địa đầu tổ quốc, cảm giác đầu tiên của cậu là vô cùng choáng ngợp. Ngước về bốn phía đều là đá núi điệp trùng, nhà cửa, dân cư thưa thớt. Nhưng, điều khiến Thắng bị ám ảnh nhất đó là những đứa trẻ người dân tộc quen ở truồng, rét tím tái, thịt da ngoang nguếch. "Sinh thực khí" hồn nhiên của chúng phô ra, vương vãi với bùn đất, cỏ cây. Cha mẹ chúng nuôi con như núi rừng nuôi cỏ. 

 

Nhân tháng thanh niên:   Sức trẻ trên cao nguyên đá

 Những tri thức trẻ, họ đã và đang cần mẫn gieo chữ trên miền đá

 

Cho đến trước khi cắp sách bước vào lớp một, trẻ em ở nhiều bản làng mà Thắng đã đi qua, hầu như các cháu không biết đến khái niệm mặc quần, đi dép, đội mũ và tiếng Kinh. Điểm trường Thắng công tác chỉ là một căn nhà cấp 4 đứng xiên xẹo trên lưng núi. Trường tất thảy có 14 học sinh trải đều từ lớp 1 đến lớp 5. Đứa lớn nhất 16, nhỏ nhất cũng vừa 8 tuổi.

 

Đêm đầu tiên ngủ lại trong ngôi trường mới, Thắng đã không cầm nổi lòng mình. Cậu khóc vì sự cô đơn, trống trải, khóc vì nhớ nhà. Đã ba bốn lần sắp đồ đạc, tư trang định quay về, nhưng, chính những đứa trẻ học trò mặt mũi ngây ngô, mắt trong veo như nước suối kia đã níu chân Thắng ở lại.

 

Sáng nào cũng vậy, công việc đầu tiên của Thắng là điểm danh xem lớp có vắng hay không, học sinh nào bỏ học. Thậm chí, nhiều hôm cậu phải băng rừng, lội suối đến tận nhà vận động bố mẹ các em cho con cái họ đến trường. Bấy giờ, vận động trẻ con dân tộc người Mông đi học là rất khó. Bởi, nhà các em quá xa, leo núi mất cả ngày đường. Trời mưa là đám trẻ núi bỏ học hàng loạt. Có hôm cả trường chỉ hai học trò đến lớp. Nhiều em đến trường còn phải địu theo cả em để vừa học vừa trông. Mỗi lần đứa bé trong địu khóc là cả lớp lại nháo nhào như vỡ chợ…

 

Phần nữa vì đa phần những gia đình ở đây đều nghèo, miếng cơm manh áo đối với họ luôn là điều quan tâm nhất, còn chuyện học chỉ là thứ yếu, thế cho nên, công tác vận động của Thắng gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Nhưng, vì nể cái tình của thầy giáo, dần dà các bậc phụ huynh cũng bớt chuyện bắt con ở nhà chăn bò, lên nương, lấy chồng, lấy vợ thay vì đi học. Khi lớp học dần đi vào ổn định, Thắng lại chạy đôn, chạy đáo, vận động bà con dân bản góp tre pheo, gỗ lạt để tu sửa lại phòng học cho đỡ dột. 

 

Mỗi tháng, Thắng băng rừng về phố huyện một lần, vừa để lĩnh lương, vừa để mua đồ dùng học tập và nhu yếu phẩm.   Nhiều khi, chân cậu tơ tướp máu vì trải qua nhiều giờ đồng hồ cuốc bộ trên hàng chục kilomet đường dốc đá tai mèo. Công cuộc gieo chữ, trồng chữ trên miền đá của cậu đôi khi phải trả giá bằng cả máu và nước mắt. Suốt 3 năm đầu, Thắng không một lần về thăm quê Phú Thọ. 

 

Băng rừng, lội suối cõng trò đi học

 

Sống trên cao nguyên đá, điều đáng lo nhất đối với những giáo viên cắm bản như Thắng và hàng ngàn, hàng vạn người dân nơi đây vẫn là nước. Tình trạng thiếu nước diễn ra hầu khắp mọi nơi, kéo dài ngày này qua tháng khác. Tất cả sinh hoạt của mấy thầy trò chỉ trông vào một cái lu với vài ba cái can nhựa loại 20 lít. Mỗi khi lu hết, thầy trò lại phải băng rừng lội suối có khi mất đến nửa ngày mới mang về được vài can đủ để nấu cơm mấy ngày. Bữa cơm của đám học trò mười bữa như nhau cả mười, bữa nào cũng chỉ có cơm và canh rau cải hoặc là nước gừng nấu loãng. Vậy mà những đứa học trò người Mông, chúng vẫn háu ăn như tằm ăn rỗi. Đối với chúng, có cơm ăn thay món mèn mén muôn thuở đã là may mắn lắm rồi.

 

Nhân tháng thanh niên:   Sức trẻ trên cao nguyên đá

 Bữa cơm toàn rau của học trò Mông

 

Việc thiếu nước ở nhiều vùng trên bắc ải Hà Giang còn được cánh giáo viên cắm bản tếu táo rằng: Sáng dậy nếu đánh răng thì thôi rửa mặt, mà có rửa thì cũng chỉ dám dấn ướt nửa chiếc khăn. Khó khăn là thế, gian nan là thế, nhưng khắp các xã, các bản làng trên cao nguyên đá, đâu đâu cũng hiện hữu những tri thức trẻ miền xuôi lên đây lập nghiệp. Họ đã và đang ngày đêm góp phần công sức nhỏ bé của mình để khai mở cho cả một vùng đất mênh mông.

 

Gần 10 năm trước, Hoàng Thị Trang (SN 1982) “bỏ phố lên rừng”. Tuy sinh ra ở Tp. Hà Giang, nhưng sau khi tốt nghiệp trung cấp sư phạm, cô quyết tâm nghe theo tiếng gọi lên với Yên Minh, lên với vùng đất còn hoang vu và đầy sơn lam chướng khí. Đường từ thành phố lên ngoằn ngoèo, dốc dác, mỗi lần đi là mỗi lần cô nôn thốc tháo. Trung bình một năm, cô chỉ có khoảng chục ngày về thăm gia đình, bố mẹ. Quỹ thời gian còn lại, cô dành cả cho công cuộc dạy chữ cho những đứa trẻ người Mông.

 

Đến giờ, khi nhắc lại những ngày đầu lên cắm bản, Trang vẫn không thôi thảng thốt. Ngày đó rừng còn hoang rậm, đường đi lối lại vô cùng khó khăn hiểm trở. Đâu đâu cũng bắt gặp những cảnh nghèo se sắt, cảnh núi rừng bủa vây, Trang những tưởng đây không phải là thế giới con người mà cô đang sống. 

 

Do điểm trường Trang phụ trách mới được thành lập nên thiếu thốn đủ bề. Lớp học là một căn chòi lá rộng độ bằng 4 chiếc chiếu đôi xiêu vẹo, vách tre vọc vạch, hở hoác. Bên trong bàn ghế mượn tạm của dân đa phần mối mọt, gãy nát, mạng nhện giăng đầy. Tối tối, giáo viên phải trải chiếu, căng mùng ngủ dưới đất, dù ngoài trời có lúc xuống dưới 10 độ C. Tình trạng thiếu lương thực cũng xảy ra thường xuyên như cơm bữa.

 

Trang nhớ mãi kỷ niệm cách đây vài năm, khi cơn lũ lớn kéo từ thượng nguồn đổ về, con đường độc đạo từ trung tâm xã vào trường có những đoạn dài bị nhấn thụt hẳn dưới khe sâu. Trong khi đó, lương thực, thực phẩm dự trữ đã cạn kiệt, các thầy cô đành phải ăn rau rừng cầm hơi mất mấy ngày. Sau đận đó, Trang ốm nằm liệt giường gần một tuần mới ngóc đầu dậy được.

 

Mẹ Trang lặn lội từ thành phố lên thăm, bà nhất mực bắt cô về thành phố, nếu không, bà sẽ từ con. Thế nhưng, sau khi ở lại cùng con gái vài đêm trong cái điểm trường heo hút ấy, chứng kiến cảnh sinh hoạt của con và những đứa học trò nhỏ người dân tộc, bà đã mềm lòng. Bởi bà nghĩ, nếu không có những người như con gái bà, liệu những đứa trẻ toàn thân lấm lem, khuôn mặt không bao giờ thôi ngơ ngác kia biết bao giờ mới biết đọc, biết viết, tương lai của chúng sẽ ra sao? Bà đành gạt nước mắt về thành phố sau khi đã để lại cho con gái ít thuốc men và đồ dùng…

 

Không chỉ khó khăn về sinh hoạt, điều kiện giảng dạy của các cô giáo cắm bản như Trang cũng gặp rất nhiều trở ngại. Cách đây vài năm, điểm trường của Trang vẫn chưa hề có điện. Tối tối, cô phải thức soạn giáo án, chuẩn bị bài giảng cho ngày hôm sau bằng ngọn đèn dầu leo lét. Đó là chưa kể ngày mưa phùn, giá rét, ngay cả cái chuyện làm sao nhóm lên rồi che chắn cho ngọn lửa không tắt cũng đã là một kỳ tích.

 

Mỗi khi lũ về, các con suối dâng lên cuồn cuộn, để giúp các em nhỏ có thể tới trường học đầy đủ, đúng giờ, Trang cùng các thầy cô phải đến tận nhà để cõng các em tới trường. Ngoài ra, học sinh ở đây đều là dân tộc người Mông, khi chúng bắt đầu bước chân tới trường thì hầu hết không nói được tiếng Kinh. Vì vậy, quá trình dạy và học ở đây vô cùng vất vả…

 

Cứ thế, những người trẻ như Thắng, như Trang và rất nhiều người khác nữa, họ đã và đang cần mẫn gieo từng hạt tri thức, xua tan mê lú, làm thức dậy cả một vùng cao nguyên đá mênh mông. Đồng thời, họ cũng giúp những đồng bào sống sau nách núi ủ mây mù hoang lạnh kia, nhận ra tình yêu với “cái chữ của Bác Hồ”.

 

Nguyễn Tư Duy

 

 

Bạn đang đọc bài viết Nhân tháng thanh niên: Sức trẻ trên cao nguyên đá tại chuyên mục Xã hội của Báo điện tử Công lý. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglydientu@congly.vn, Hotline 091.2532.315 - 096.1101.678
Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật