Báo Công lý
Thứ Ba, 25/2/2020

Quyền và thực hiện quyền của người sử dụng đất

13/4/2012 11:10 UTC+7
(Công lý) - Quyền của người sử dụng đất được quy định tại các Điều 10, 33, 34, 35, 36, 42, 67, 105, 106 và Điều 138 của Luật Đất đai hiện hành (Quốc hội thông qua ngày 26-11-2003 và sửa đổi, bổ sung ngày 18 và 19-6-2009) là quá trình kế thừa và phát triển của Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993. Trong Luật Đất đai năm 1987 không quy định người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận


Luật Đất đai năm 1993 không quy định người sử dụng đất được bảo lãnh, tặng cho quyền sử dụng đất, không quy định người thuê đất được cho thuê lại quyền sử dụng đất và cũng không quy định khi hết thời hạn sử dụng đất mà người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất và việc sử dụng đất lại phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước thì có được Nhà nước tiếp tục giao đất hay không… thì Luật Đất đai 2003 đã bổ sung các quyền này cho người sử dụng đất.

Khu đất của ông Đoàn Văn Vươn.


Như vậy là, tuy người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đối với đất đang sử dụng, nhưng người sử dụng đất vẫn có các quyền căn bản của chủ sở hữu.


Tuy nhiên, có một quyền mà pháp luật đất đai từ năm 1987 đến nay Nhà nước không quy định đối với người sử dụng đất được thực hiện, đó là quyền cầm cố đất. Việc Nhà nước không quy định người sử dụng đất có quyền cầm cố đất là có nguyên do riêng. Thiển nghĩ của chúng tôi về các nguyên do đó là:


Thứ nhất: Về mặt pháp lý, cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để bảo đảm cho việc vay tài sản của bên nhận cầm cố. Do người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đối với đất đang sử dụng nên việc cầm cố đất là không đúng pháp luật về giao dịch cầm cố.


Thứ hai: Về chính trị, xã hội, nhiều thế hệ người Việt Nam đã đổ biết bao xương máu mới có được mảnh đất hình chữ S trên bản đồ thế giới nên người là chủ sở hữu mảnh đất hình chữ S phải là toàn dân tộc Việt Nam. Nhà nước không quy định người sử dụng đất có quyền cầm cố đất là nhằm mục đích để người sử dụng đất tri ân với các thế hệ người Việt Nam có công giữ nước và để người sử dụng đất luôn luôn có đất sử dụng. Ví dụ: Pháp luật đất đai có quy định người sử dụng đất được thế chấp quyền sử dụng đất để vay tài sản, thời hạn thế chấp quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất vừa vay được tài sản và vẫn có đất để sử dụng. Do đó các giao dịch cầm cố đất, hợp đồng cầm cố đất từ sau ngày Luật Đất đai 1987 có hiệu lực thi hành đến nay là vô hiệu.


Người sử dụng đất khi thực hiện các quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai hiện hành phải có đủ điều kiện sau đây:

- Có GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.


- Đất không có tranh chấp.


- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án.

- Trong thời hạn sử dụng đất.


Có bạn đọc trao đổi với chúng tôi về vụ cưỡng chế, thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Tp. Hải Phòng như sau: Trong hai quyết định giao đất của UBND huyện Tiên Lãng, có nội dung là giao đất cho ông Đoàn Văn Vươn sử dụng nhưng ông Vươn đã cho người khác thuê một phần đất được giao. Việc ông Vươn cho thuê như vậy có vi phạm với quyết định giao đất hay không?


Chúng tôi cho rằng, ông Vươn được giao đất lần thứ nhất vào ngày 4-10-1993. Sau khi nhận đất được giao thì Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành (từ ngày 15-10-1993). Đến ngày 9-4-1997, ông Vươn được giao đất lần thứ 2. Thời điểm giao đất lần thứ 2 là thời điểm Luật Đất đai 1993 có hiệu lực thi hành. Như vậy là ông Vươn được giao đất hợp pháp đến khi nhận đất xong là đang trong thời gian Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành. Trong Điều 78 Luật Đất đai năm 1993 có quy định như sau: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, do hoàn cảnh gia đình neo đơn, khó khăn… thiếu sức lao động thì được cho người khác thuê đất”. Do đó, việc ông Vươn có cho người khác thuê đất là việc làm phù hợp với Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003 nên việc làm đó không vi phạm quyết định giao đất của UBND huyện Tiên Lãng.


Nhà nước CHXHCN Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật nên giải quyết các tranh chấp phát sinh trong cuộc sống phải căn cứ vào pháp luật để xác định đúng, sai mà không phụ thuộc vào ý chí của riêng ai.


Đỗ Văn Chỉnh

congly.com.vn
Bạn đang đọc bài viết Quyền và thực hiện quyền của người sử dụng đất tại chuyên mục Pháp luật của Báo điện tử Công lý. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglydientu@congly.vn, Hotline 091.2532.315 - 096.1101.678
Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật