Báo Công lý
Chủ nhật, 07/6/2020

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000 (Kỳ 2): Hôn nhân thực tế và hôn nhân bất hợp pháp

05/3/2013 07:59 UTC+7
Sau 12 năm thi hành, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã phát huy tốt vai trò, tác động tích cực trong nhiều mặt, góp phần xây dựng gia đình văn hóa, thúc đẩy kinh tế gia đình, kinh tế xã hội phát triển...

Tuy nhiên, luật cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập… do đó việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình là cần thiết.

Có cần xem xét lại việc công nhận hôn nhân thực tế? Bên cạnh đó, cần có quy định điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hôn nhân bất hợp pháp.

 

Về hôn nhân thực tế

 

Trong thực tiễn xét xử, ngành Tòa án đã công nhận hôn nhân thực tế trong nhiều năm. Khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực đến nay thì chỉ còn công nhận hôn nhân thực tế cho các trường hợp chung sống như vợ chồng từ trước ngày 3/1/1987. (Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội).

 

Chung sống như vợ chồng là một hiện tượng xã hội sẽ tiếp tục tồn tại và có nhiều khả năng sẽ phát triển, dù Nhà nước không khuyến khích, không thừa nhận. Có không ít người hoàn toàn nhận thức được điều đó nhưng họ vẫn không đi đăng ký kết hôn. Bởi lẽ, hôn nhân không phải hình thành, tồn tại xuất phát từ tờ giấy, dù tờ giấy đó có giá trị pháp lý rất cao. Hôn nhân xuất phát từ nhu cầu của mỗi cá nhân trong mối quan hệ xã hội. Vì vậy, Nhà nước nên điều tiết theo bản chất của quan hệ đó để thừa nhận hay không thừa nhận họ là vợ chồng. Do đã từng tham gia xét xử công nhận hôn nhân thực tế, nên cảm thấy băn khoăn khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không còn công nhận hôn nhân thực tế. Mặc dù khi công nhận hôn nhân thực tế Thẩm phán sẽ gặp khó khăn nhiều hơn, vì phải đánh giá quan hệ sống chung đó có đủ điều kiện công nhận hôn nhân thực tế hay không. Một khi phải xem xét về bản chất bao giờ cũng khó hơn khi chỉ xét về hình thức. Nhưng phụ nữ và trẻ em sẽ được lợi nhiều hơn, đặc biệt là phụ nữ khi việc chung sống của họ được thừa nhận là vợ chồng về pháp lý chứ không phải chỉ có gia đình, họ hàng, bạn bè thừa nhận họ là vợ chồng. Đây là vấn đề cũng có phần nhạy cảm và có thể sẽ có nhiều người chưa đồng tình, vì cho rằng công nhận hôn nhân thực tế là khuyến khích họ không đăng ký kết hôn, không tuân thủ pháp luật.

 

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000 (Kỳ 2): Hôn nhân thực tế và hôn nhân bất hợp pháp

 

Ảnh minh họa

 

Lo ngại của quan điểm này là đáng suy nghĩ, cân nhắc. Nhưng pháp luật ra đời là để quản lý xã hội, quản lý Nhà nước, là để mọi hoạt động phải theo một trật tự thúc đẩy xã hội phát triển và cuối cùng nhằm mục tiêu phục vụ con người, vì con người. Song rất tiếc chỉ vì một vi phạm hình thức (không đăng ký) mà Luật Hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 11 là không công nhận họ là vợ chồng, dù trên thực tế họ hàng, gia đình, bạn bè, cộng đồng dân cư ở đó đều công nhận họ là vợ chồng; và chính đôi nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đều ứng xử với nhau, coi nhau là vợ chồng. Chỉ có pháp luật vẫn không công nhận họ là vợ chồng (do họ không tuân thủ việc đăng ký kết hôn) liệu có quá khắt khe, có thỏa đáng không? Nếu việc không đăng ký kết hôn gây ra hậu quả rất xấu cho xã hội, cho Nhà nước thì việc bắt buộc mọi công dân phải chấp hành, nếu không chấp hành phải chịu những hậu quả là cần thiết, còn trong trường hợp này còn có sự lựa chọn khác đưa lại kết quả có thể hợp lý hơn. Pháp luật chỉ là một công cụ phục vụ cho con người, bất kể quy định nào đó của luật có tính nhân văn cao hơn, vì con người hơn thì dù có thể gây khó khăn nhất định cho cơ quan, cho người có thẩm quyền khi thi hành, khi áp dụng thì vẫn nên lựa chọn những quy định vì người dân, tôn trọng quyền tự do của người dân, nếu nó không xâm phạm quyền lợi của người khác, của Nhà nước và xã hội.

 

Trên thế giới cũng có những nước công nhận hôn nhân thực tế. Ví dụ: Điều 739 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định việc kết hôn phát sinh bằng việc đăng ký phù hợp quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, trong án lệ, Tòa án Nhật Bản cũng công nhận hôn nhân của những người chung sống như vợ chồng, nếu được cộng đồng xung quanh thừa nhận hoặc dựa trên lý do chính đáng khác. Bộ luật Dân sự Pháp từ Điều 515-1 đến Điều 515-8 đã quy định cụ thể về thỏa thuận tổ chức cuộc sống chung và hôn nhân thực tế. Tại các Điều 53, 55 Luật Gia đình Canada đã quy định hai người chung sống mà không đăng ký kết hôn có thể thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ của mình trong thời gian chung sống hoặc việc chấm dứt thời gian chung sống. Thỏa thuận đó phải được lập thành văn bản. Nếu sau này hai bên kết hôn thì thỏa thuận chung sống này được coi là thỏa thuận hôn nhân… có thể mỗi nước có cách tiếp cận và xử lý vấn đề này có khác nhau ở mức độ nhất định, nhưng điều cơ bản họ đã thừa nhận nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu không vi phạm các điều kiện về nội dung, các điều cấm thì sẽ được công nhận hôn nhân thực tế. Đây là thông tin có thể tham khảo khi sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, và cần cân nhắc lại vấn đề công nhận hôn nhân thực tế. Nếu lựa chọn theo hướng công nhận hôn nhân thực tế như trước đây đã từng được áp dụng trong thực tiễn thì quy định rõ trong luật những điều kiện để được công nhận hôn nhân thực tế và có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp.

 

Về hôn nhân bất hợp pháp

 

Nếu như trong quan hệ hôn nhân hợp pháp Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn (Điều 27, 32, 97); nhưng đối với hôn nhân bất hợp pháp thì chỉ có Điều 17 quy định về giải quyết hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật, nhưng quy định này cũng chỉ định tính, không cụ thể. Trong khi, không có quy định nào nêu rõ cơ sở để xác định tài sản chung, nhập tài sản riêng vào tài sản chung v.v…

 

Tại khoản 3 Điều 17 có quy định khi chia tài sản “…ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con” cần được hiểu như thế nào? Có phải ưu tiên là sẽ chia tài sản theo yêu cầu của họ? Chia tài sản cho họ nhiều hơn so với công sức đóng góp và chia nhiều hơn khoảng bao nhiêu là vừa? vv…. Vì không cụ thể nên khi giải quyết quan hệ tài sản các thẩm phán gặp nhiều khó khăn, lúng túng, thiếu thống nhất dễ phạm sai sót.

 

Kết hôn bất hợp pháp và chung sống với nhau như vợ chồng (kể cả người đồng giới) sẽ có những điểm chung về cơ sở hình thành tài sản chung, nhập tài sản riêng vào tài sản chung, nguyên tắc chia tài sản v.v… Do đó, cần có một số điều quy định chung về vấn đề con cái. Trong quan hệ này cần có một vài điều quy định chung về nguyên tắc xác định quan hệ cha con, và quy định viện dẫn (về các điều giải quyết việc giao nuôi con, phí tổn nuôi con trong quan hệ hôn nhân hợp pháp vì vấn đề này là giống nhau). Về tài sản, cần quy định cơ sở hình thành tài sản chung, xác định tài sản chung, tài sản riêng… chia tài sản chung v.v… làm cơ sở pháp lý cho việc xác định tài sản chung, tài sản riêng, chia tài sản chung v.v…

 

(còn nữa)

 

Duy Kiên

Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật