Báo Công lý
Thứ Sáu, 29/5/2020

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000 (Kỳ 5): Tài sản chung khi đầu tư vào DN, mang thai hộ, hôn nhân có yếu tố nước ngoài

13/3/2013 09:32 UTC+7
Mang thai hộ, một vấn đề nhạy cảm đang được dự kiến đưa vào luật, bên cạnh đó cũng sẽ có những quy định về tài sản chung khi đầu tư vào doanh nghiệp và quy định cụ thể hơn về hôn nhân có yêu tố nước ngoài.

Sau 12 năm thi hành, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã phát huy tốt vai trò, tác động tích cực trong nhiều mặt, góp phần xây dựng gia đình văn hóa, thúc đẩy kinh tế gia đình, kinh tế xã hội phát triển. Tuy nhiên, luật cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập… do đó việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình là cần thiết.

Mang thai hộ, một vấn đề nhạy cảm đang được dự kiến đưa vào luật, bên cạnh đó cũng sẽ có những quy định về tài sản chung khi đầu tư vào doanh nghiệp và quy định cụ thể hơn về hôn nhân có yêu tố nước ngoài.

Về tài sản chung khi đầu tư vào doanh nghiệp

 

Trong nền kinh tế thị trường có khá nhiều cặp vợ chồng đầu tư kinh doanh, thành lập công ty do vợ chồng đứng tên hoặc cùng cha, mẹ, anh em, bạn bè đứng tên và có trường hợp vợ chồng tham gia cùng người khác thành lập công ty hoặc đóng góp cổ phần. Nhưng Luật Hôn nhân và gia đình chưa có một điều nào quy định về vấn đề này. Đặc biệt khi vợ chồng mâu thuẫn, ly hôn thì việc xử lý tài sản của vợ chồng trong công ty như thế nào cũng cần phải được quy định. Thiết nghĩ, ít nhất cũng phải quy định nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng đang đầu tư, sản xuất, kinh doanh, trong đó có thể quy định trường hợp nào không được chia phần tài sản trong công ty, doanh nghiệp khi vợ chồng ly hôn (sẽ được giải quyết sau); trường hợp nào được phân chia, cách thức phân chia. Việc xử lý tài sản chung trong công ty, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu không cản trở công ty, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh… trên cơ sở đó mới có căn cứ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án giải quyết.

 

Vấn đề mang thai hộ

 

Đây là vấn đề báo chí đề cập nhiều trong những năm qua và cũng là nội dung Ban soạn thảo dự kiến đưa vào Luật Hôn nhân và gia đình khi tiến hành sửa đổi, bổ sung. Tác giả thấy có 3 vấn đề cần quy định:

 

Một là: Vấn đề mang thai hộ không chỉ là vấn đề pháp lý đơn thuần mà còn là vấn đề đạo đức, liên quan đến phong tục, tập quán, có tính xã hội sâu sắc. Trong điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán, tâm lý chung hiện nay, tác giả cho rằng cần quy định cấm mang thai hộ có tính chất thương mại. Sở dĩ cần phải quy định cấm là vì:

 

- Việt Nam đang cần hạn chế sinh đẻ, nếu cho phép mang thai hộ sẽ là một kẽ hở để ai đó muốn có thêm con “nối dõi tông đường” khai thác.

 

- Nếu cho phép mang thai hộ sẽ dẫn đến hoạt động mua bán, đổi trác, kinh doanh… mà hậu quả rất khó lường.

 

- Phong tục, tập quán, tâm lý xã hội hiện nay cũng chưa sẵn sàng chấp nhận cho việc mang thai hộ. 

 

Hai là: mang thai hộ vì lý do nhân đạo. Có những người muốn có con nhưng sức khỏe không cho phép, ví dụ mắc bệnh tim nặng, còn các vấn đề khác vẫn bình thường, hoặc những người mắc “bệnh vô sinh” dù sức khỏe tốt. Nhu cầu muốn có con của họ là chính đáng, xã hội cần ủng hộ.

 

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000 (Kỳ 5): 	Tài sản chung khi đầu tư vào DN, mang thai hộ, hôn nhân có yếu tố nước ngoài

 

Ảnh minh họa

 

Để tránh lợi dụng cần quy định chặt chẽ với các điều kiện cụ thể giữa người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ vì lý do nhân đạo.

 

Ba là: Dù có cấm đoán nhưng trên thực tế sẽ có những người vì các động cơ khác nhau, bất chấp pháp luật vẫn thuê người mang thai hộ và những trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Vì vậy, dưới góc độ quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình cần có những quy định giải quyết hậu quả của vấn đề mang thai hộ, như:

 

- Xác định đứa trẻ là con của ai (người mang thai hay người cung cấp trứng, tinh trùng)?

 

- Ai có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng?

 

- Giao đứa trẻ cho ai khi có tranh chấp giữa người mang thai và người thuê mang thai, hoặc mang thai hộ vì lý do nhân đạo; hình thức pháp lý của việc mang thai hộ.

 

Cần quy định ai phải chịu trách nhiệm về những rủi ro đối với người mang thai hộ, số tiền thuê mang thai vì mục đích thương mại được xử lý như thế nào? v.v…

 

Tùy theo tính chất của từng vấn đề mà có thể quy định ở các luật tương ứng v.v..

 

Việc xác định ai là cha, mẹ đứa trẻ, ai có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng chúng thì quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình. Các vấn đề liên quan đến hợp đồng mang thai, những rủi ro đối với người mang thai.v.v… sẽ được quy định trong Bộ luật Dân sự.

 

Đối với những vấn đề xâm phạm có tính chất nghiêm trọng đến trật tự quản lý xã hội… thì phải quy định trong Bộ luật Hình sự

 

Kết hôn, ly hôn với người nước ngoài

 

Sau một thời gian hội nhập quốc tế, vấn đề kết hôn và ly hôn với người nước ngoài phát triển mạnh, được dư luận đặc biệt quan tâm. Bên cạnh những mặt tích cực, việc kết hôn với người nước ngoài cũng xuất hiện nhiều vấn đề tiêu cực như hình thức là kết hôn nhưng bản chất là mua bán phụ nữ, kết hôn vì mục đích kinh tế… Do đó, phần lớn người tham gia kết hôn thiếu những trang bị cần thiết về ngôn ngữ, vốn văn hóa, phong tục, tập quán của nước mà họ sẽ phải sinh sống, dẫn đến những bi kịch đáng tiếc.

 

Các quy định tại chương 11 “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” thiếu cụ thể ở nhiều góc độ như về điều kiện kết hôn với người nước ngoài, căn cứ cho ly hôn… Đặc biệt là những khó khăn trong ủy thác tư pháp làm trở ngại cho việc ly hôn giữa công dân Việt Nam đang ở Việt Nam với người (vợ hoặc chồng) nước ngoài đã bỏ về nước; công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và chung sống ở nước ngoài sau đó bỏ về nước và xin ly hôn; người Việt Nam đi lao động ở lại nước ngoài không cung cấp địa chỉ cho người vợ hoặc người chồng trong nước v.v..

 

Căn cứ cho ly hôn đối với các trường hợp này, ngoài các căn cứ chung như các trường hợp khác thì phải thể hiện được tính đặc thù của quan hệ hôn nhân này, ví dụ nếu người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam, sau đó bỏ về nước mà không thông báo, không liên hệ với người vợ hoặc người chồng ở Việt Nam thì phải coi người nước ngoài cố tình dấu địa chỉ và coi việc bỏ đi trong trường hợp này là một căn cứ cho ly hôn.

 

Việc kết hôn, nuôi con nuôi, quan hệ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cũng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam nên được quy định trong luật, không nên để Chính phủ quy định như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. 

 

Duy Kiên

 

 

Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật