Báo Công lý
Thứ Sáu, 05/6/2020

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000 (Kỳ 4): Vấn đề giám hộ và quyền "khởi tố" vụ án dân sự của VKS

11/3/2013 16:54 UTC+7
Sau 12 năm thi hành, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã phát huy tốt vai trò, tác động tích cực trong nhiều mặt, góp phần xây dựng gia đình văn hóa, thúc đẩy kinh tế gia đình, kinh tế xã hội phát triển.

Tuy nhiên, luật cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập… do đó việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình là cần thiết.

Vấn đề giám hộ và các quy định có liên quan đến quyền “khởi tố” vụ án dân sự của Viện kiểm sát, căn cứ ly hôn và hòa giải trong thuận tình ly hôn đã được quy định nhưng chưa đầy đủ, cần được bổ sung.

Về vấn đề giám hộ

 

Tại Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện là người giám hộ”

 

Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật”.

 

Mặc dù có hai điều luật quy định về giám hộ cho người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, song vẫn có trường hợp cần người giám hộ nhưng luật chưa quy định dẫn đến không bảo vệ kịp thời lợi ích của người mất năng lực hành vi dân sự. Đó là trường hợp một bên vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự, còn một bên vợ hoặc chồng vẫn bình thường nhưng đã không quan tâm hoặc đối xử không tốt với người vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự, đã thế lại khai thác tài sản chung cho những lợi ích riêng của riêng mình. Phía cha mẹ (của người mất năng lực hành vi dân sự) muốn đại diện cho con, khởi kiện xin ly hôn và giải quyết quan hệ tài sản chung thì luật lại không cho phép.

 

Về vấn đề này, tác giả đã có bài viết “Một số vấn đề về giám hộ” được in trong cuốn “Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tái bản lần thứ tư, phát hành đầu năm 2013. Trong bài đó, tác giả đã phân tích kỹ vướng mắc này. Vì vậy, khi sửa Luật Hôn nhân và gia đình cần sửa đổi, bổ sung trường hợp nói trên để cha mẹ có quyền giám hộ, đại diện cho con đã trưởng thành nhưng mất năng lực hành vi dân sự trong một số trường hợp cụ thể (chứ không phải loại trừ tất cả như quy định của Điều 39 nói trên).

 

Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình về “Bồi thường thiệt hại do con gây ra”: cần quy định rõ ngay trong tít của điều luật đây là nghĩa vụ của cha mẹ chứ không nên quy định chung chung như vậy.

 

Quyền của trẻ em được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam và trong Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đã ký kết. Vì vậy, khi sửa luật cần nghiên cứu, chọn lọc đưa vào những quyền cơ bản của trẻ em trong mối quan hệ với gia đình (cha mẹ, con, anh em, ông bà) nhà nước và xã hội nhằm giúp cho việc nhận thức, tìm hiểu, giúp cho việc thực thi trong gia đình và xã hội được tốt hơn, sâu sắc hơn.

 

Cần quy định rõ hơn nữa nghĩa vụ cha mẹ chỉ giới hạn khi con còn vị thành niên, trừ trường hợp đặc biệt (không có khả năng lao động…) và trách nhiệm con đã thành niên với cha mẹ (vấn đề này luật hiện hành quy định chung quá). Đồng thời, bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của người nuôi dưỡng, người được nuôi dưỡng (mà hai bên không phải là quan hệ cha, mẹ, con theo huyết thống hay nuôi con nuôi).

 

Quy định về việc thanh toán công sức đóng góp của con trong khối tài sản chung của bố mẹ, khi giải quyết việc chia tài sản vợ chồng.

Trên thực tế, khi xét xử Tòa án đã căn cứ vào công sức đóng góp đã trích chia cho con một phần tài sản trước khi chia khối tài sản của bố mẹ theo Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình.

 

Về quy định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án…

 

- Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định cho Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án dân sự như trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Do đó, cần bỏ quy định: “Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án…”, hoặc “cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án…” ở các điều có quy định quyền này của Viện kiểm sát, ví dụ các điều 15, 42, 55, 60, 77…

 

Căn cứ ly hôn và hòa giải trong thuận tình ly hôn

 

Về căn cứ ly hôn, quy định còn quá chung chung và trừu tượng dẫn đến hiểu và áp dụng lại phụ thuộc nhiều vào nhận thức chủ quan của Thẩm phán. Do đó, cần có các điều cụ thể hóa Điều 89 cho dễ vận dụng hơn, như quy định rõ thế nào được coi là “Tình trạng trầm trọng…”, “Mục đích hôn nhân không đạt được”, với các tiêu chí cụ thể.

 

Tuy nhiên, tác giả cũng nhận thấy bản thân quan hệ vợ chồng là lĩnh vực tình cảm, là vấn đề trừu tượng, huyền ảo cho nên khi cụ thể hóa căn cứ cho ly hôn cũng cần tránh liệt kê theo lỗi, theo hiện tượng. Vì quy định như vậy sẽ dẫn đến khuynh hướng lệch lạc khác còn nguy hại hơn trong xét xử là dễ áp dụng cứng nhắc, máy móc, không xem xét đến tình trạng của hôn nhân. Việc Tòa án xử cho ly hôn, xét về bản chất thì đó chỉ là việc “xác nhận một sự vật đã chết”, chấm dứt một sự vật vốn chỉ còn tồn tại về hình thức. Do đó, các quy định của luật nếu đưa ra được các tiêu chí, các biểu hiện cụ thể, các căn cứ cụ thể phản ánh đúng tình trạng của quan hệ hôn nhân đó, thì sẽ thuận lợi cho các Thẩm phán khi xét xử các vụ án ly hôn. Mặc dù tác giả cũng nhận thấy thể hiện rõ được vấn đề này không dễ, không đơn giản.

Trong trường hợp không đưa ra được các tiêu chí giúp đánh giá đúng bản chất, tình trạng hiện tại của quan hệ hôn nhân thì nên giữ như cũ. Vì quy định này đã tồn tại trên năm mươi năm và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã gợi mở nhiều cho Thẩm phán trong nhận thức, đánh giá về thực trạng quan hệ hôn nhân đó.

 

Thực tiễn xét xử trong nhiều năm qua, tỷ lệ sai sót do giải quyết không đúng quan hệ tình cảm không nhiều.

 

Về hòa giải trong trường hợp thuận tình ly hôn:

 

Việc quy định hòa giải trong thuận tình ly hôn (Điều 90) tuy cũng có mặt tốt là hạn chế được các trường hợp vợ chồng còn tình cảm nhưng chỉ vì tự ái, sĩ diện… mà thuận tình ly hôn. Trong thực tế đã có rất nhiều vụ nhờ hòa giải mà cứu vãn được sự đổ vỡ, vợ chồng trở về đoàn tụ, duy trì được hạnh phúc trong gia đình và con cái. Tuy nhiên, quy định việc hòa giải là một thủ tục bắt buộc thì có phần can thiệp quá nhiều, hay nói cách khác là cản trở, can thiệp quá sâu vào quyền tự do định đoạt, tự nguyện thỏa thuận của hai bên. Vì vậy, cần có sự điều chỉnh cho hợp lý theo hướng không coi đó là thủ tục bắt buộc, nhưng khuyến khích hòa giải khi thấy cần thiết.

 

Nên quy định trường hợp Tòa án xử bác đơn ly hôn thì thời gian bao lâu có quyền xin ly hôn lại. Vì đây là quyền của mỗi bên, nếu luật không quy định dễ dẫn đến tùy tiện, mỗi nơi một khác. Thực tế Tòa án nhân dân tối cao đã phải hướng dẫn.

 

(Kỳ sau xem tiếp)

 

Duy Kiên

Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật