Báo Công lý
Thứ Bảy, 06/6/2020

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000 (Kỳ 3): Tài sản chung, tài sản riêng

11/3/2013 09:28 UTC+7
Xác định tài sản chung, tài sản riêng luôn là vấn đề khá phức tạp qua thực tiễn xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình, bởi vậy cần có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn khi sửa đổi luật.

Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000 (Kỳ 3): Tài sản chung, tài sản riêng

Ảnh minh họa

 

Trong quá trình áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về tài sản chung, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản riêng của vợ chồng, cũng bộc lộ những hạn chế của luật như các quy định về quyền sở hữu của vợ chồng, chưa thể hiện triệt để tính minh bạch, công khai trong các giao dịch liên quan đến tài sản trong hôn nhân; có những quy định chưa thực sự bảo vệ lợi ích gia đình, củng cố, gắn kết gia đình; bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình. Ví dụ: tài sản chung là nhà, đất do một bên đứng tên hoặc cả hai vợ chồng cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, nhưng một bên (vợ hoặc chồng) đã chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh và đã được công chứng, chứng thực; bên nhận chuyển nhượng, bên nhận thế chấp, bảo lãnh hoàn toàn ngay tình. Nhưng theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu khi chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh mà chỉ có một bên đứng ra giao dịch, bên kia không biết, không đồng ý, thì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu toàn bộ, dẫn đến bên nhận chuyển nhượng… dù hoàn toàn ngay tình vẫn bị lãnh đủ thiệt hại. Bên cạnh đó còn có nhiều quy định còn chung chung, có tính nguyên tắc. Vì vậy, khi sửa đổi, bổ sung luật hôn nhân và gia đình cần quy định cụ thể hơn như tại khoản 1 Điều 27 nên bổ sung các hình thức, các nguồn hình thành tài sản chung của vợ chồng.

 

Đối với khoản 2 Điều 27 luật mới chỉ quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả hai vợ chồng”. Như vậy, luật mới quy định điều phải làm, phải thể hiện trên giấy tờ. Nhưng nếu vợ, chồng không làm theo quy định đó thì sao? Khi có tranh chấp giữa vợ chồng về tài sản đó thì lấy tiêu chí gì để xác định? Có không ít ý kiến khác nhau khi xem xét, đánh giá vì luật chưa quy định rõ. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp tài sản lớn, có giá trị (nhà, đất, xe…) là tài sản chung nhưng chỉ đứng tên một bên vợ hoặc chồng, và cũng không hiếm trường hợp tài sản đó là tài sản của vợ chồng nhưng cơ quan có thẩm quyền khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng lại ghi là hộ gia đình, khi có tranh chấp gây khó khăn cho người dân và cả Tòa án. Vì vậy, cần phải quy định cả chiều ngược lại để áp dụng cho trường hợp vợ chồng không làm đúng như quy định trong khoản 2 Điều 27. Việc không thực hiện như quy định tại khoản 2 Điều 27 là: tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng, nhưng chỉ có một bên đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu và quy định cả trường hợp tài sản chung của vợ chồng, nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, hoặc tài sản chung của vợ chồng nhưng giấy chứng nhận lại ghi “hộ” gia đình.

 

Việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung

 

Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được quy định tại khoản 2 Điều 32 là: “Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”. Quy định này chỉ có tính nguyên tắc, thiếu cụ thể. Các văn bản dưới luật tuy có cụ thể hóa nhưng mới chỉ quy định một chiều khi các bên có thỏa thuận nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì phải lập thành văn bản, quy định về hiệu lực thỏa thuận, nhưng nếu sau đó các bên có tranh chấp thì xử lý thế nào về thỏa thuận đó, nhất là những thỏa thuận không có công chứng, chứng thực? Cần có điều luật quy định về vấn đề này.

 

Trong thực tế hiếm gặp trường hợp hai bên có lập văn bản thỏa thuận khi nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Ngược lại tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân, tài sản riêng của một bên có trước, sau khi cưới được hai bên nhập vào tài sản chung khá nhiều, họ có thể nhập tài sản riêng để tạo ra một tài sản mới, như góp vào xây nhà, mua xe hoặc góp vào cùng kinh doanh

 

Việc vợ chồng nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung là một điều rất tốt, tạo sự gắn kết gia đình, nhưng khi một hoặc hai bên cùng nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung, vợ chồng không lập văn bản, có trường hợp không cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó. Vì vậy, phải có các quy định cụ thể hóa thực tiễn sinh động đó trong Luật Hôn nhân và gia đình, khi có tranh chấp mới xử lý được thống nhất và công bằng. Các trường hợp này là một trong số những vướng mắc, lúng túng trong thực tiễn xét xử.

 

Việc chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại

 

Về chia tài sản chung vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại, cần bổ sung nguyên tắc chia: Có chia theo quy định tại Điều 95, giống như trường hợp ly hôn hay không? Cần phải thể hiện rõ. 

 

Hiện nay, luật quy định theo hướng tuyệt đối hóa phần tài sản đã được chia “hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng…”. Nhưng ngoài quy định rất chung chung về nghĩa vụ vợ chồng, con, ngoài ra không có quy định cụ thể nào đề cập đến trường hợp sau khi chia tài sản, một bên vừa làm, vừa nuôi con, còn bên kia chỉ tập trung vào kinh doanh, thì phần thu nhập đó xác định là tài sản chung hay tài sản riêng. Song quy định trong luật hiện hành đã nêu trên phải hiểu kết quả kinh doanh từ tài sản được chia đều thành tài sản riêng của một bên. Đây có phải là một khiếm khuyết của luật nên không tạo ra sự gắn kết, củng cố gia đình? Khi vợ chồng mâu thuẫn, do ngoại tình dẫn đến ly hôn, bên nuôi con, thậm chí nuôi cha mẹ cho bên kia (có trường hợp cha mẹ chồng rất thương người con dâu này) thường chịu thiệt thòi nhiều, Tòa án muốn bênh vực họ thì chỉ biết vận dụng linh hoạt, chứ không có một điều khoản nào quy định rõ để áp dụng.

 

Quy định ở Điều 29 có thể hiểu, luật cho phép vợ chồng chia hết tài sản chung và Điều 30 đã quy định theo hướng tuyệt đối hóa tài sản được chia là “hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người”. Mặc dù khoản 4 và khoản 5 Điều 33 có xu hướng khống chế lại quyền của người có tài sản riêng, nhưng vẫn làm phát sinh những mâu thuẫn giữa các điều luật, đó là: căn cứ phát sinh tài sản chung ở Điều 27: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động… trong thời kỳ hôn nhân… là tài sản chung”. Trong khi người được chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân đã khai thác tài sản được chia để kinh doanh họ phải bỏ công sức, trí tuệ để quản lý, để sản xuất, nhưng kết quả thu được từ hoạt động này theo quy định tại Điều 30 sẽ là tài sản riêng. Dù Điều 30 không quy định rõ tài sản do hai bên tạo ra sau khi chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại coi là tài sản riêng hay tài sản chung, nhưng như phân tích ở trên và với cách quy định như vậy thì phải hiểu, phải giải thích tài sản do mỗi bên tạo ra sau khi chia tài sản chung sẽ là tài sản riêng. Cách giải thích này là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/1/2001 của Chính phủ: “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”. Như vậy, sau khi vợ chồng chia tài sản chung thì sẽ không còn căn cứ phát sinh tài sản chung (trừ việc được tặng cho, thừa kế chung…). Đây là một điều không hợp lý khi ta còn mong muốn duy trì tính bền vững của quan hệ hôn nhân. Một khi cơ sở vật chất chung của quan hệ này không còn tồn tại, thì tính bền vững của quan hệ hôn nhân sẽ hết sức lỏng lẻo, chỉ còn là lý thuyết nhiều hơn. Nếu đôi vợ chồng này lại không có con cái thì thật khó có thể tin quan hệ hôn nhân của cặp vợ chồng này tồn tại bền vững.

 

Một khiếm khuyết khác của luật hiện hành là khi quy định theo hướng “tuyệt đối hóa” tài sản riêng, tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân và không hạn chế việc chia tài sản chung khi hôn nhân tồn tại (được phép chia hết), nhưng lại không quy định rõ nghĩa vụ của các bên đóng góp cho đời sống chung là không ổn.

 

Theo tác giả: Nếu đã cho phép chia hết tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại thì nên quy định các nghĩa vụ đóng góp cụ thể của mỗi bên đối với gia đình (vợ hoặc chồng, con) để bảo đảm sự công bằng, bảo đảm lợi ích của các thành viên. Khi một bên thiếu trách nhiệm Tòa án có cơ sở để xử lý bảo đảm lợi ích vật chất cho bên kia, mà phần nhiều trong trường hợp này là bảo vệ phụ nữ và trẻ em khi hôn nhân đang tồn tại, hoặc khi ly hôn.

 

Hiện nay, do luật không quy định trong thời kỳ hôn nhân nếu một bên thiếu tinh thần trách nhiệm, không đóng góp nuôi con, chỉ một bên nuôi con, khi ly hôn một bên (thường là phụ nữ) yêu cầu bên kia thanh toán cho họ một khoản (gọi là truy lĩnh tiền nuôi con) các Thẩm phán không chấp nhận, có chăng Thẩm phán chỉ vận dụng khi chia tài sản chung có tính đến yếu tố một bên đã không đóng góp nuôi con. Sở dĩ Thẩm phán không chấp nhận yêu cầu đòi truy lĩnh tiền nuôi con là do Điều 50 chỉ quy định chung; Điều 56 chỉ đặt vấn đề cấp dưỡng cho con khi ly hôn; Điều 60 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ, chồng khi ly hôn, không có điều nào quy định cụ thể cho tình huống nêu trên.

 

Điều 29 quy định khi hôn nhân đang tồn tại chỉ được chia tài sản chung khi có một trong các điều kiện sau:

- Vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng;

- Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng;

- Có lý do chính đáng khác;

 

Khoản 2 Điều 29 chỉ quy định một tình huống cấm chia là: “chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản” thì thỏa thuận này không có giá trị.

 

Có vấn đề đặt ra là trong trường hợp không có một trong ba điều kiện trên mà vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung thì có coi việc thỏa thuận chia đó là hợp pháp không?

 

Nếu theo nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật không cấm thì phải coi việc thỏa thuận đó của vợ chồng là không trái pháp luật.

 

Từ phân tích trên cho thấy cần sửa lại Điều 29 theo hướng: 

- Phương án 1: bỏ các điều kiện nêu ở khoản 1; 

- Phương án 2: phải bổ sung thêm khoản 2 Điều 29 là nếu không có một trong ba điều kiện trên thì không được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tác giả đồng tình theo phương án này.

 

Phải giải thích thuật ngữ “có lý do chính đáng khác”, và bổ sung vào Điều 8  để hiểu, vận dụng thống nhất.

 

Điều 30 cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm nói rõ sau khi chia tài sản chung có còn căn cứ phát sinh tài sản chung thông qua lao động của họ nữa hay không? Khắc phục mâu thuẫn giữa Điều 27 với Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ.

 

(Kỳ sau xem tiếp)

 

Duy Kiên

 

Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật