Báo Công lý
Thứ Sáu, 05/6/2020

Góp ý Dự thảo Luật Đất đai sửa đổ) (Kỳ 1): Hộ gia đình - Hòa giải tranh chấp đất đai cần quy định hợp lý

20/3/2013 08:44 UTC+7
Luật Đất đai đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, quá trình thi hành luật này vẫn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập. Hiện nay, vấn đề sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai đang được toàn thể xã hội quan tâm.

Báo Công lý đăng tải một số bài viết liên quan đến những vấn đề cụ thể trong quá trình góp ý kiến dự thảo Luật Đất đai.

Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất được quy định tại các Điều 154, Điều 162, Điều 163 dự thảo. Khái niệm hộ gia đình cũng được quy định Điều 106 BLDS. Tuy nhiên, khi vận dụng quy định này còn nhiều bất cập. 

 

Hiện nay nhiều ý kiến thành viên Ban soạn thảo dự án BLDS cho rằng cần bỏ quy định này, vì lý do: Trên thực tế, khi giải quyết tranh chấp về tài sản liên quan đến hộ gia đình thì việc xác định những thành viên nào có tài sản chung, thành viên nào cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung của hộ gia đình; tài sản chung của hộ gia đình trong khối tài sản chung của gia đình; thời điểm phát sinh quyền về tài sản của từng thành viên hộ gia đình trong khối tài sản chung của hộ gia đình là rất khó khăn. Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, sau một thời gian cùng tham gia hoạt động sản xuất, do nhu cầu và thay đổi về thành viên trong hộ gia đình như trường hợp con cái lấy chồng, lấy vợ ra ở riêng đòi chia tách do đó phát sinh tranh chấp, đây là thực tế hiện nay đang gặp nhiều vướng mắc khi giải quyết tại Toà án.

 

Trong BLTTDS không đề cập đến khái niệm hộ gia đình, khi có tranh chấp chủ hộ gia đình không có quyền đứng đơn khởi kiện mà phải được sự ủy quyền của các thành viên hộ gia đình. Với tư cách là một "nhóm người" có tài sản chung, cùng hoạt động kinh tế chung, hình thức sở hữu của hộ gia đình đối với tài sản chung của cả hộ là sở hữu nhiều chủ. Do đó, nên điều chỉnh mối quan hệ này thông qua chế định sở hữu chung, khi các thành viên gia đình có tài sản chung thì việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung sẽ theo quy định của BLDS, khi phát sinh tranh chấp thì một trong các chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện tại Toà án yêu cầu phân chia tài sản trong khối tài sản chung đó. Do vậy, Ban soạn thảo cần cân nhắc khi sử dụng khái niệm này.

 

Góp ý Dự thảo Luật Đất đai sửa đổ) (Kỳ 1): Hộ gia đình - Hòa giải tranh chấp đất đai cần quy định hợp lý

Ảnh minh họa

 

Về hòa giải tranh chấp đất đai, Điều 182 Dự thảo quy định: "1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở. 2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai. Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai".

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 182 dự thảo luật thì quy định này được hiểu tất cả tranh chấp mà các bên không tự hòa giải được đều phải thực hiện hòa giải tại cơ sở trước khi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Thực tiễn năng lực cán bộ hòa giải ở cấp xã phường hạn chế, không đáp ứng yêu cầu số lượng tranh chấp càng tăng dẫn đến việc thực hiện mang tính chiếu lệ. Trong khi đó quy định này làm hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự. Do vậy, đề nghị sửa lại theo hướng: "Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được có quyền gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án…". 

 

Về công nhận kết quả hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở, hiện nay quá trình thực hiện việc hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Hoà giải và Điều 135 Luật Đất đai nêu trên gặp phải bất cập, đó là: Trường hợp các bên thỏa thuận phương án giải quyết tranh chấp và thi hành nhưng sau đó một trong các bên lại thay đổi không thực hiện, vì pháp luật không có quy định về việc ràng buộc trách nhiệm của các bên đối với thoả thuận mà các bên đã đạt được, dẫn đến kết quả hòa giải không có ý nghĩa về mặt pháp lý.

 

Để khắc phục tình trạng này, cần có sự kết nối giữa các quy định về thủ tục hoà giải cơ sở theo quy định của pháp luật với công tác xét xử của Toà án theo hướng bổ sung vào quy định tại Điều 135 Luật Đất đai như sau: “Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Toà án công nhận kết quả hòa giải ở cơ sở, hoà giải tại trung tâm hoà giải theo quy định của pháp luật”.

 

Đồng thời, nên bổ sung nội dung sau đây vào Luật Hoà giải cơ sở: “Kết quả hòa giải ở cơ sở, hoà giải tại trung tâm hoà giải theo quy định của pháp luật giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức, không trái quy định pháp luật, được Tòa án công nhận khi đương sự có yêu cầu”. Thủ tục công nhận kết quả hoà giải được thực hiện theo quy định của BLTTDS. 

 

Thanh Phúc

 

 

Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật