Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 23,04 tỷ USD. Châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản chính, chiếm 44,1%.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong tháng 4/2026 ước đạt 6,05 tỷ USD, giảm 3,8% so với tháng trước và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt khoảng 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong số đó, xuất khẩu nông sản đạt 12,16 tỷ USD, tăng 1,5%; sản phẩm chăn nuôi đạt 245 triệu USD, tăng mạnh 45,5%; thủy sản đạt 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%; lâm sản đạt 5,82 tỷ USD, tăng 0,8%.
Xét theo khu vực thị trường, châu Á tiếp tục là điểm đến lớn nhất của các mặt hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam, chiếm 44,1% tổng thị phần xuất khẩu. Tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với tỷ trọng lần lượt đạt 20,9% và 15,8%, trong khi châu Phi và châu Đại Dương chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, tương ứng 2,3% và 1,4%.
So với cùng kỳ năm trước, trong 4 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang châu Á tăng 11,5%, châu Âu tăng 3,7% và châu Đại Dương tăng 19,8%; ngược lại, xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 3,5% và châu Phi giảm mạnh 26%.
Xét theo từng thị trường cụ thể, Trung Quốc tiếp tục là đối tác nhập khẩu lớn nhất với thị phần 21,1%, tiếp đến là Hoa Kỳ chiếm 18,5% và Nhật Bản chiếm 7%. Trong cùng kỳ, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc tăng mạnh 28,8%, sang Nhật Bản tăng nhẹ 1,3%, trong khi thị trường Hoa Kỳ ghi nhận mức giảm 4,8%.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, một số mặt hàng xuất khẩu chính như cà phê với khối lượng tháng 4/2026 ước đạt 198,8 nghìn tấn với giá trị đạt 845,8 triệu USD; đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cà phê bốn tháng đầu năm 2026 đạt 789,3 nghìn tấn và 3,6 tỷ USD (tăng 15% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025). Đức, Italia và Tây Ban Nha là 3 thị trường tiêu thụ lớn nhất.
Tiếp theo là cao su với khối lượng xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 73,6 nghìn tấn với giá trị đạt 146,7 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu cao su bốn tháng đầu năm 2026 đạt 463,8 nghìn tấn và 860,9 triệu USD (tăng 2,4% về khối lượng nhưng giảm 1,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025).
Khối lượng xuất khẩu chè trong tháng 4/2026 ước đạt 8 nghìn tấn với giá trị đạt 14,8 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu chè bốn tháng đầu năm 2026 đạt 33,7 nghìn tấn và 57,8 triệu USD.
Đối với gạo, khối lượng xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 1,1 triệu tấn với giá trị đạt 492,7 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo bốn tháng đầu năm 2026 đạt 3,3 triệu tấn và 1,57 tỷ USD (giảm 2,3% về khối lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025). Trong đó, Philippin là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 48,5%.
Giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 4/2026 ước đạt 532 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả bốn tháng đầu năm 2026 đạt 2,06 tỷ USD. Khối lượng xuất khẩu hạt điều của Việt Nam trong tháng 4/2026 ước đạt 61,1 nghìn tấn với giá trị đạt 433,4 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu hạt điều bốn tháng đầu năm 2026 đạt 186,6 nghìn tấn và 1,29 tỷ USD (giảm 4,6% về khối lượng và giảm 2,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025).
Giá trị xuất khẩu hàng thủy sản tháng 4/2026 ước đạt 947,8 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng thủy sản bốn tháng đầu năm 2026 đạt 3,59 tỷ USD (tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2025).
Đối với gỗ và sản phẩm gỗ, giá trị xuất khẩu tháng 4/2026 ước đạt 1,43 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ bốn tháng đầu năm 2026 đạt 5,42 tỷ USD (tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2025). Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 49,1%. Trung Quốc và Nhật Bản là hai thị trường lớn tiếp theo.