Chỉ một ngày trước khi bức tường băng, đá và bùn đất quét qua các thung lũng Himalaya dọc biên giới Nepal - Trung Quốc, nhà nghiên cứu khí hậu Dipesh Chapagain đã nói về mức độ tàn phá khủng khiếp mà một thảm họa như vậy có thể gây ra.
Đối với Tiến sĩ Dipesh Chapagain, người lớn lên ở vùng đồi phía đông Nepal và hiện đang nghiên cứu về các mối nguy hiểm trên núi tại Đại học Liên hợp quốc ở Bonn, Đức, chủ đề này vừa mang tính chuyên môn, vừa có ý nghĩa cá nhân sâu sắc.

Ông đã thấy sự thay đổi về những rủi ro mà khu vực này phải đối mặt. “Khi tôi còn nhỏ, mọi chuyện không như vậy”, ông nói. “Hoặc khi bố mẹ hay ông bà tôi còn nhỏ, đó không phải là thử thách lớn mà họ phải đối mặt”.
Vào 8 giờ 37 phút sáng 26/8, một sườn núi cao ở dãy Himalaya bị sạt lở. Vụ sạt lở lớn đến mức các thiết bị đo địa chấn ghi nhận cường độ 5,2 độ Richter. Ban đầu thậm chí nó bị nhầm là một trận động đất. Lớp đá nền bên dưới một sông băng sụp đổ, cuốn theo khối lượng lớn băng và đá rơi xuống khoảng 1.200m về phía đáy thung lũng.
Nước, phù sa và những tảng đá lớn tràn xuống các con sông phía dưới. Các thị trấn và làng mạc dọc một trong những tuyến đường thương mại quan trọng nhất của Nepal với Trung Quốc bị cuốn trôi. Tại một trạm quan trắc, mực nước dâng tới 9m chỉ trong nửa giờ.
Đến hôm nay, hơn 900 người ở Nepal và Tây Tạng được báo cáo đã tử vong do trận lũ quét, trong khi hơn 3.000 người vẫn mất tích, trong đó có hàng trăm người nước ngoài.
Gia đình Tiến sĩ Chapagain may mắn thoát nạn. Tuy nhiên, tin tức về thảm họa vẫn ảnh hưởng nặng nề đến ông. “Thật khó khăn khi nhận được những tin nhắn đau lòng từ quê nhà”, ông nói. “Những tin nhắn như vậy ngày càng thường xuyên và dữ dội hơn”.
Trận lũ này là minh họa tàn khốc những gì các nhà khoa học đã cảnh báo trong nhiều năm. Cấu trúc băng giá của dãy Himalaya đang thay đổi. Hàng triệu người phải đối mặt với những mối nguy hiểm ngày càng khó dự đoán. Trong một số trường hợp, chúng có sức tàn phá khủng khiếp.
Các chuyên gia vẫn đang thu thập thông tin để làm rõ chuỗi sự kiện dẫn đến thảm họa này. Phân tích hình ảnh vệ tinh cho thấy lớp đá nền bên dưới một sông băng bị sạt lở. Nó khiến khối lượng lớn băng và đá rơi xuống Lhende Khola, một nhánh của sông Bhotekoshi, gây ra chuỗi lũ quét tàn phá sau đó.
Cơ chế lần này khác với các trận lũ do vỡ hồ băng mà Tiến sĩ Chapagain và các đồng nghiệp tại Chương trình Nghiên cứu Bảo vệ núi toàn cầu (GLOMOS) đang nghiên cứu trên khắp dãy Hindu Kush Himalaya. GLOMOS là một phần của Viện Môi trường và An ninh con người thuộc Đại học Liên hợp quốc (UNU).
Nghiên cứu của nhóm đã phân tích 493 trận lũ - từ khi có số liệu đến năm 2024. Kết quả cho thấy các hiện tượng này xảy ra với tần suất nhiều gấp khoảng 5 lần kể từ năm 1950, tăng từ mức trung bình khoảng 7 trận mỗi thập kỷ lên 34 trận.
Những trận lũ này thường xảy ra khi nước do băng tan tích tụ thành các hồ quanh những sông băng đang thu hẹp dần. Các hồ nước thường được giữ lại bởi lớp băng không ổn định hoặc đá và trầm tích rời rạc. Khi những con đập tự nhiên này bị vỡ, một lượng nước khổng lồ có thể được giải phóng gần như ngay lập tức.
Thảm họa ngày 26/8 dường như bắt nguồn từ một chuỗi sự kiện khác. “Lần này, bước trung gian đã được bỏ qua”, Tiến sĩ Chapagain nói.

Dãy Hindu Kush Himalaya cung cấp nước cho 10 lưu vực sông lớn. Khoảng 2,1 tỷ người ở đó phụ thuộc vào nguồn nước, thực phẩm, năng lượng và sinh kế. Nhưng không chỉ những ngọn núi đang thay đổi. Môi trường sống của con người bên dưới chúng cũng đang biến đổi.
Theo thời gian, đường sá, doanh nghiệp, khách sạn và các dự án thủy điện ngày càng tập trung ở các khu vực thấp dọc theo các con sông. Đó là khu vực dễ dàng hơn cho việc xây dựng và cơ hội kinh tế lớn hơn.
Tiến sĩ Chapagain cho biết nguồn nước ở một số khu định cư vùng cao cũng đang cạn kiệt. Điều đó khiến người dân phải di chuyển xuống vùng thấp hơn.
Điều đó tạo ra một sự hội tụ nguy hiểm: khi tình trạng nóng lên làm thay đổi các dãy núi phía trên, ngày càng nhiều người và cơ sở hạ tầng tập trung tại những hành lang mà nước và đất đá có thể đổ xuống.
Thung lũng bị tàn phá bởi trận lũ ngày 26/8 là minh chứng cho sự xung đột đó. Hành lang Bhote Koshi - Trishuli là tuyến đường thương mại chính dẫn đến Kathmandu. Dọc tuyến đường này có các nhà máy thủy điện, cầu, đường sá, khách sạn và khu dân cư. Trận lũ phá hỏng các trạm điện, làm gián đoạn giao thông và liên lạc trong toàn khu vực.
Mối nguy hiểm đã hiện hữu. Một vụ vỡ đập hồ băng cũng đã xảy ra trên cùng hệ thống sông này vào năm ngoái. Nó khiến 9 người thiệt mạng và 24 người mất tích.
Đối với Tiến sĩ Chapagain, thảm họa cũng phơi bày một điểm yếu nghiêm trọng: các cộng đồng dân cư có thể nhận được rất ít cảnh báo trước khi một thảm họa bắt nguồn từ vùng núi cao ập đến.
Ông cho biết chính quyền Nepal chỉ biết về trận lũ khi nó đang tiến gần đến biên giới. Sau đó, thông tin cảnh báo được truyền xuống hạ lưu thông qua tin nhắn, mạng xã hội, các cuộc gọi điện thoại và chuông báo động.
Ông cho rằng việc giảm thiểu nguy hiểm phải bắt đầu từ thượng nguồn. Cần giám sát liên tục các sông băng và sườn dốc không ổn định. Việc quan sát vệ tinh, đo đạc thời tiết và mực nước sông, cùng các hệ thống cảnh báo sớm có khả năng giúp cộng đồng có đủ thời gian sơ tán. Các con sông và sông băng vượt qua biên giới quốc gia. Do đó, Trung Quốc, Nepal và các quốc gia ở hạ lưu cũng phải trao đổi dữ liệu nhanh chóng.
Vấn đề còn sâu xa hơn ngay cả khi lượng khí thải nhà kính giảm mạnh. Tiến sĩ Chapagain cho biết các sông băng vẫn sẽ tiếp tục mất khối lượng trong nhiều thập kỷ tới. Trái đất nóng lên đã tạo ra những thay đổi trong hệ thống khí hậu. Lượng băng tan chảy cuối cùng sẽ như thế nào vẫn nằm trong tầm kiểm soát của nhân loại. Tuy nhiên, những gì xảy ra trong ngắn hạn thì khó kiểm soát hơn nhiều.
Theo ông, điều đó khiến việc thích nghi không còn là sự chuẩn bị cho một tương lai xa. Đối với các cộng đồng dân cư nằm dưới chân dãy Himalaya, tương lai đó đã đến vào ngày 26/8.