Tin địa phương

Đồng Nai: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ xâm hại tình dục trẻ em

Thu Hằng 26/10/2025 - 18:09

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đang trở thành một trong những vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã có nhiều quy định đầy đủ và nghiêm khắc song vẫn còn những “lỗ hổng” và điểm chưa thống nhất, khiến công tác điều tra, truy tố, xét xử gặp nhiều khó khăn.

Báo động tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục

Trong những năm gần đây, tình trạng xâm hại tình dục trẻ em diễn biến ngày càng phức tạp, để lại những hậu quả nặng nề không chỉ với nạn nhân và gia đình, mà còn là “vết thương” đối với xã hội. Theo thống kê, giai đoạn 2016–2022, xảy ra hàng nghìn vụ án liên quan đến hành vi xâm hại trẻ em ở các địa phương như: TP.HCM có 815 vụ/935 bị cáo; Đồng Nai 615 vụ/681 bị cáo; Cà Mau 384 vụ/406 bị cáo; Bình Dương 370 vụ/414 bị cáo… Riêng trên địa bàn Bình Phước (cũ), các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra và truy tố 344 vụ, 345 bị can về các tội xâm hại tình dục trẻ em.

anh-man-hinh-2025-10-26-luc-16.01.10.png
Ảnh minh hoạ.

Một thực tế đáng lo ngại là nhiều vụ việc xảy ra ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện địa lý cách trở, giao thông khó khăn, nhận thức của người dân còn hạn chế. Phần lớn thủ phạm lại là người thân, hàng xóm, người quen biết của nạn nhân khiến việc phát hiện, tố giác và xử lý càng thêm phức tạp. Không ít gia đình, vì sợ mất mặt hay lo ảnh hưởng đến tương lai con em mình, đã chọn cách im lặng hoặc giải quyết theo luật tục, “phạt bằng heo, trâu”, thay vì đưa sự việc ra ánh sáng pháp luật.

Bên cạnh đó, hệ thống quy trình tố tụng đặc biệt dành cho xử lý tin báo, tố giác và điều tra vụ án xâm hại tình dục trẻ em vẫn chưa được thiết lập đầy đủ. Trong khi đó, nạn nhân là trẻ nhỏ yếu thế, sợ hãi, lời khai không thống nhất, vụ việc lại thường xảy ra nơi vắng người, không nhân chứng, không vật chứng. Cơ quan điều tra vì thế gặp muôn vàn khó khăn trong việc xác minh, thu thập chứng cứ, giám định và kết luận hành vi phạm tội.

Ngoài ra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết hiện nay chưa được đào tạo để hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, chưa được trang bị kiến thức về pháp luật nên khó khăn, lúng túng trong công tác nhận diện tội phạm, đánh giá tội phạm và thu thập tài liệu, chứng cứ ban đầu.

Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân trong thời gian qua các cơ quan tiến hành tố tụng của hai cấp tỉnh Bình Phước (cũ) nhận thức còn khác nhau về định tội danh dẫn đến nhiều vụ án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại do xử lý không đúng tội danh làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

“Lá chắn” bảo vệ trẻ em

Chính vì vậy, vừa qua, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai đã tổ chức Hội đồng Khoa học và công nghệ cấp tỉnh đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đề tài “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Phước”.

anh-man-hinh-2025-10-26-luc-15.56.07.png
Phiên họp Hội đồng KH&CN cấp tỉnh đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đề tài “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Phước”.

Đề tài do Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hân làm chủ nhiệm, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là đơn vị chủ trì. Theo đó, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã thực hiện nhằm tiếp cận và nghiên cứu sâu những vấn đề về lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em để áp dụng vào thực tiễn.

Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) tại chương XIV đã quy định 7 tội danh liên quan đến xâm phạm tình dục (từ Điều 141 đến 147), trong đó có 5 điều quy định riêng về tội phạm xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, nhiều khái niệm pháp lý vẫn còn mơ hồ, thiếu ranh giới rõ ràng để phân biệt các hành vi như: Hành vi dâm ô trẻ em, khiêu dâm trẻ em, hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi…

Những nội dung đề cập ở trên cũng chưa được quy định rõ trong Luật trẻ em. Bởi tại khoản 8 Điều 4 Luật Trẻ em quy định: “Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”. Nhưng theo mô tả của Bộ luật Hình sự thì hành vi xâm phạm tình dục được quy định là tội phạm có tính tổng quát, dẫn đến trong thực tiễn áp dụng còn có cách hiểu và nhận thức khác nhau.

Mặc dù, Tòa án nhân dân tối cao cũng có Nghị quyết hướng dẫn hành vi dâm ô và hành vi quan hệ tình dục khác như mô tả sự tương tác giữa các bộ phận trên cơ thể có tính chất kích thích tình dục để thỏa mãn mục đích tạo ra các cảm giác về tình dục của mình. Tuy nhiên, khái niệm về tội xâm phạm tìnhdục trẻ em chưa được rõ ràng để phân biệt khi định tội danh nên việc khởi tố nhiều vụ án có hành vi xâm phạm tình dục trẻ em gặp khó khăn, kéo dài thời gian xử lý khiến dư luận bức xúc.

Do đó, việc yêu cầu nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em trở thành nhiệm vụ cấp thiết, trọng tâm. Nhóm nghiên cứu đề tài đã đưa ra một số đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án xâm hại tình dục trẻ em của Viện kiểm sát.

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với các đối tượng có hành vi xâm hại tình dục trẻ em

Hai là, chính quyền các cấp cần đóng vai trò làm cầu nối, phối hợp giữa chính quyền, gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Tăng cường nguồn lực, gắn trách nhiệm với người đứng đầu tại địa phương về công tác bảo vệ trẻ em, phòng ngừa bạo lực, xâm hại tìnhdục trẻ em, đặc biệt là bố trí nhân lực làm công tác trẻ em ở cấp cơ sở.

Ba là, tiếp tục kiện toàn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ công tác trẻ em, nhất là ở cơ sở, trong đó lưu ý vấn đề về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu trẻ em bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ.

Bốn là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội về các hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, gắn với trách nhiệm người đứng đầu chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị.

anh-man-hinh-2025-10-26-luc-15.56.32.png
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hân, Tỉnh ủy viên, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, chủ nhiệm đề tài báo cáo kết quả thực hiện đề tài.

Hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về xâm hại tình dục trẻ em

Đặc biệt, nhóm nghiên cứu cũng đã đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về xâm hại tình dục trẻ em, cụ thể:

Trước hết, cần sửa đổi, bổ sung hoàn thiện để làm rõ định nghĩa như thế nào về “giao cấu” và “các hành vi quan hệ tình dục khác”. Bản chất của các hành vi phạm tội này hiện chưa rõ ràng để đảm bảo sự công bằng trong việc bảo vệ trẻ em trai và trẻ em gái cũng như xem xét đầy đủ các hình thức hiếp dâm khác nhau về khái niệm “giao cấu”.

Tiếp theo, cần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 để làm rõ khái niệm “hiếp dâm”, theo đó nên được hiểu là bất kỳ hành vi thâm nhập nào (qua đường âm đạo, hậu môn hoặc đường miệng) mà không có sự đồng ý của nạn nhân và loại bỏ các yêu cầu về sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực; cần cân nhắc bổ sung một tội danh riêng về “xâm hại tình dục” để xử lý những hành vi tình dục trái pháp luật mà không có sự xâm nhập.

Song song với đó, BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay vẫn chưa quy định rõ ràng ranh giới giữa “hành vi quan hệ tình dục” (từ Điều 141 đến Điều 144) và “hành vi dâm ô đối với trẻ em” được nêu tại Điều 146. Do đó, cần phân biệt cụ thể giữa “hành vi quan hệ tình dục khác” và “hành vi dâm ô”, đồng thời đưa ra định nghĩa rõ ràng: “Hành vi dâm ô” nên được hiểu là những hành vi có tính chất tình dục nhưng không bao gồm việc tiếp xúc hoặc xâm nhập về thể chất giữa người phạm tội và trẻ em.

Ngoài ra, cũng cần làm rõ các yếu tố cấu thành tội “sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm” quy định tại Điều 147 BLHS năm 2015.

Đồng thời, cần nghiêm cấm hành vi dụ dỗ, gạ gẫm trẻ em. “Dụ dỗ” là một loại hành vi phổ biến mà người phạm tội thường sử dụng để kết thân và tạo dựng một mối quan hệ tình cảm với trẻ em, đôi lúc với cả gia đình trẻ em, nhằm làm giảm sự đề phòng của trẻ em nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em.

Cuối cùng, cần quy định rõ để cho phép các cơ quan điều tra can thiệp ngay lập tức khi có bằng chứng rõ ràng về việc dụ dỗ trẻ em, trước khi hành vi xâm hại tình dục trẻ em thực sự diễn ra.

anh-man-hinh-2025-10-26-luc-15.59.45.png

Có thể khẳng định, tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là một trong những loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, danh dự và nhân phẩm của trẻ em, mà còn gây tổn hại sâu sắc đến nền tảng đạo đức và các giá trị xã hội.

Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học nói trên có ý nghĩa quan trọng, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học khách quan, rõ ràng và minh bạch, làm cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh Bình Phước (cũ) tham khảo, vận dụng trong quá trình đấu tranh, phòng ngừa và xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đồng Nai: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ xâm hại tình dục trẻ em