Danh mục kiểm kê khí nhà kính cập nhật có sự thay đổi rõ rệt về quy mô và phân bố địa phương. Đây là bước đi quan trọng nhằm siết chặt quản lý phát thải, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi xanh và hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Theo danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, số lượng cơ sở phải kiểm kê có sự thay đổi lớn, tăng lên 2.441, cao hơn 275 cơ sở so với danh mục của Quyết định 13/20242 (2.166 cơ sở).

Việc bổ sung hàng trăm cơ sở phản ánh nỗ lực rà soát dữ liệu từ các địa phương và ngày càng nhiều doanh nghiệp được đưa vào phạm vi quản lý phát thải.
Về cấu trúc theo các lĩnh vực, ngành Công Thương đang chiếm tỷ lệ lớn nhất trong danh mục với số lượng cơ sở lên tới 1.916. Trong số 1.916 cơ sở của ngành Công thương thì công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất (93,5%) với 1.792 cơ sở. Con số này phản ánh tình trạng phát thải của lĩnh vực này cần giải pháp tập trung giảm phát thải. Việc xác định số cơ sở nhóm ngành chế biến nhằm quản lý phát thải, đáp ứng yêu cầu trong nước cũng như quốc tế, đặc biệt là yêu cầu tiêu chuẩn xanh.
Nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Quyết định 42 đó là nhựa - cao su (19,3%) và dệt may (19%). Cụ thể, nhựa chiếm 327 cơ sở, cao su 322 cơ sở, dệt may 200 cơ sở, cơ khí, sản phẩm kim loại là 193 cơ sở và sắt thép - luyện kim là 163 cơ sở. Trong khi đó, số cơ sở thuộc nhóm ngành điện - điện tử, sản xuất hàng hóa khác lại có mức giảm nhiều nhất.
Theo phân bố địa phương, TP.Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hưng Yên là những tỉnh/thành phố có số lượng cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính lớn nhất. Thực tế so với những lần trước, danh mục cập nhật có sự thay đổi rõ rệt ở các địa phương. Ví dụ như Tây Ninh, Ninh Bình, Hà Nội là những tỉnh/thành phố có số lượng cơ sở tăng nhiều nhất. Trong khi, Hải Phòng, Đồng Nai và Tp.Hồ Chí Minh mặc dù vẫn chiếm tỷ lệ cao nhưng lại có mức giảm mạnh về số cơ sở.
Những thay đổi trên cho thấy quản lý phát thải đang được mở rộng để đảm bảo kiểm soát phát thải khí nhà kính bao phủ đa dạng các ngành nghề, nhằm sản xuất bền vững, giảm phát thải, hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 mà Việt Nam đã cam kết.
Còn lĩnh vực Xây dựng mặc dù có tỷ lệ cơ sở thấp hơn so với lĩnh vực Công thương nhưng lại có mức tăng mạnh nhất số cơ sở qua các kỳ cập nhật (từ 104 cơ sở tăng lên 411 cơ sở).
Trong khi đó lĩnh vực giao thông vận tải có xu hướng giảm số cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Tuy nhiên, theo chuyên gia, việc giảm số lượng cơ sở không đồng nghĩa với việc ngành giao thông vận tải ít phát thải.
Đây cũng là lĩnh vực đang phải chịu áp lực chuyển đổi, xanh hóa, giảm phát thải. Bà Hà nêu thực tế các doanh nghiệp logistics đang chịu sức ép lớn từ các khách hàng quốc tế về chuyển dịch, sử dụng các phương tiện vận chuyển xanh.
Với các đơn vị vận hành kho lạnh, đang áp dụng các giải pháp năng lượng mặt trời mái nhà và chuyển đổi các môi chất lạnh gây hiệu ứng khí nhà kính và tác động tới tầng ozone sang các môi chất lạnh thân thiện môi trường.
Theo các chuyên gia, những cơ sở nằm trong danh mục sẽ phải tuân thủ theo quy định và lộ trình giảm phát thải. Trước hết, các cơ sở phải thực hiện kiểm kê và nộp báo cáo giảm nhẹ, lập kế hoạch giảm nhẹ phát thải, thực hiện các biện pháp giảm nhẹ và lập báo cáo kết quả giảm nhẹ. Các cơ sở thuộc danh mục kiểm kê khí nhà kính sẽ phải nộp báo cáo kiểm kê trước ngày 31/3/2027.
Còn với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch (nhóm ngành sắt thép, xi măng, nhiệt điện), kỳ báo cáo sẽ nộp trước ngày 1/12/2027 và kỳ tiếp theo trước ngày 1/12/2029. Các cơ sở được phân bổ hạn ngạch từ năm 2027 sẽ nộp báo cáo trước ngày 1/12/2029. Đây là những mốc thời gian các doanh nghiệp, cơ sở cần lưu ý để tuân thủ quy định.