Tài chính - Ngân hàng

4 nguyên nhân khiến mã số thuế doanh nghiệp bị “treo”

Tuấn Dũng 16/09/2026 15:25

Thời gian qua, Cục Thuế (Bộ Tài chính) đã đẩy nhanh tiến độ chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh".

Đẩy nhanh tiến độ chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh"

Theo thống kê, đến ngày 8/9, tỷ lệ xử lý danh sách doanh nghiệp, tổ chức ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế (trạng thái 03) tại 34 địa phương đạt bình quân 36%.

Trong đó, Lai Châu có tỷ lệ cao nhất với 74,8%, tiếp đến Gia Lai 66,6%, Hà Nội 62,5% và Ninh Bình 61,5%. TPHCM chỉ đạt 19,6% song số lượng xử lý tuyệt đối lớn nhất cả nước, chiếm 26,1% kết quả toàn ngành.

4 nguyên nhân khiến mã số thuế doanh nghiệp bị “treo” 2
Theo thống kê, đến ngày 8/9, tỷ lệ xử lý danh sách doanh nghiệp, tổ chức ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế (trạng thái 03) tại 34 địa phương đạt bình quân 36%. (Ảnh minh hoạ: Tuấn Dũng).

Nói về nguyên nhân dẫn đến tình trạng người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh (trạng thái 06), ông Nguyễn Đức Huy, Phó ban Nghiệp vụ (Cục Thuế) cho biết qua rà soát hồ sơ, tình trạng này là tồn đọng tích lũy qua nhiều thời kỳ, phát sinh từ nhiều nhóm nguyên nhân.

ong-nguyen-duc-huy20260715153312-c3d8e26f7e4c79b06fe0de94d49ae6c8.jpg
Ông Nguyễn Đức Huy, Phó Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế).

Thứ nhất, cơ chế, chính sách và thủ tục gia nhập thị trường ngày càng được đơn giản hóa, trong khi việc rút khỏi thị trường, giải thể và chấm dứt hiệu lực mã số thuế phải hoàn thành nhiều thủ tục, nghĩa vụ với cơ quan thuế, với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan khác.

Đối với người nộp thuế đã thực tế ngừng hoạt động, nhưng còn thiếu hồ sơ khai thuế, còn tiền phạt, tiền chậm nộp, nợ thuế, lệ phí môn bài hoặc các nghĩa vụ tồn đọng khác, việc hoàn tất thủ tục theo quy trình thông thường gặp nhiều khó khăn.

Một số trường hợp nợ đã khoanh, nợ không có khả năng thu hoặc còn số tiền nộp thừa nhưng không còn chủ thể để xử lý cũng chưa có cơ chế kết thúc phù hợp.

Thứ hai, về phía người nộp thuế, nhận thức và mức độ tuân thủ pháp luật về tạm ngừng, giải thể, chấm dứt hoạt động còn hạn chế. Có trường hợp tự ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ đăng ký mà không thông báo; không nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế, không phối hợp với cơ quan thuế hoặc lựa chọn bỏ địa chỉ vì cho rằng đơn giản hơn việc thực hiện thủ tục giải thể.

Khi ngừng hoạt động, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm bộ máy, trả mặt bằng, không còn kế toán, con dấu, chữ ký số hoặc không lưu giữ đầy đủ sổ sách, hóa đơn, chứng từ; người đại diện theo pháp luật có trường hợp đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi, xuất cảnh hoặc không thể liên hệ, nên không còn chủ thể thực hiện thủ tục.

Thứ ba, về tổ chức thực hiện của cơ quan thuế, việc giải quyết hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động tại một số địa bàn còn chậm; việc kiểm tra quyết toán, ban hành biên bản, kết luận và xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế có trường hợp chưa kịp thời.

Ngoài ra, nguồn lực xử lý chưa tương xứng với khối lượng hồ sơ tồn đọng; công tác quản lý sau khi người nộp thuế bị xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký có thời điểm chưa được thực hiện liên tục, chưa gắn đầy đủ với rà soát hóa đơn, khai thuế, nợ thuế và các biện pháp xử lý tiếp theo. Công cụ cảnh báo sớm, phân loại rủi ro và theo dõi kết quả xử lý chưa đáp ứng yêu cầu.

Thứ tư, về dữ liệu và phối hợp liên ngành, dữ liệu lịch sử trên các hệ thống quản lý có trường hợp thiếu, sai lệch hoặc không còn hồ sơ gốc; thông tin định danh, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật và trạng thái hoạt động giữa cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa hoàn toàn đồng bộ.

“Việc phối hợp xác minh, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoàn tất thủ tục giải thể và xử lý trường hợp đã được cơ quan thuế xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nhưng chưa hoàn tất tại cơ quan đăng ký kinh doanh còn chưa kịp thời”, ông Huy nói.

Ông Huy cũng chỉ ra một số trường hợp có tính chất đặc thù, phức tạp, như doanh nghiệp giả mạo thông tin cá nhân, doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp có dấu hiệu mua bán hóa đơn; đơn vị hành chính, sự nghiệp sau sắp xếp không xác định rõ chủ thể kế thừa nghĩa vụ; chi nhánh phụ thuộc có trạng thái hoặc nghĩa vụ khác với đơn vị chủ quản. Các trường hợp này không thể xử lý dứt điểm chỉ bằng quy trình chấm dứt hiệu lực mã số thuế thông thường.

Cần có giải pháp xử lý số tồn đọng và giải pháp phòng ngừa phát sinh mới

Theo ông Huy, tình trạng người nộp thuế ở trạng thái 03, 06 không chỉ xuất phát từ ý thức tuân thủ của người nộp thuế mà còn do vướng mắc của cơ chế, chính sách; hạn chế trong tổ chức thực hiện; dữ liệu lịch sử và phối hợp liên ngành.

"Vì vậy, cần đồng thời có giải pháp xử lý số tồn đọng và giải pháp phòng ngừa phát sinh mới”, ông nói.

Luật Quản lý thuế số 108/2025 và Nghị định số 252/2026 cũng đã quy định trách nhiệm của chủ sở hữu, thành viên hợp danh, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật và người quản lý trong việc hoàn thành nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ liên quan đến hồ sơ thuế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh cũ trước khi đăng ký thuế cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh mới.

Ông nhấn mạnh: “Từ các quy định trên, trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế cần thực hiện đầy đủ việc xác thực, đối soát và kiểm soát các điều kiện này để ngăn ngừa việc sử dụng thông tin giả mạo hoặc thành lập pháp nhân mới nhằm né tránh nghĩa vụ”.

Cục Thuế đang tiếp tục hoàn thiện quy trình nội bộ, giao chỉ tiêu xử lý cho cơ quan thuế từng cấp; quy định rõ thời hạn và trách nhiệm của từng bộ phận trong việc kiểm tra quyết toán, xác nhận nghĩa vụ thuế, chuyển trạng thái mã số thuế và phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh. Đồng thời, theo dõi riêng số phát sinh mới, số đã khôi phục hoạt động và số đã chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

(0) Bình luận
Nổi bật
4 nguyên nhân khiến mã số thuế doanh nghiệp bị “treo”