Chiều 5/12, với đa số đại biểu tán thành (433/440) Quốc hội chính thức biểu quyết thông qua Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi).

Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định, phán quyết theo quy định của pháp luật; tổ chức, hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự.
Trong đó, hệ thống thi hành án dân sự gồm: Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, 34 cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và 355 phòng thi hành án dân sự khu vực trực thuộc cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
Luật bổ sung chức danh tư pháp "Chấp hành viên trưởng" để bổ nhiệm đối với Trưởng phòng thi hành án dân sự khu vực nhằm bảo đảm thống nhất trong việc chỉ đạo và phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
Luật quy định rõ văn bản, dữ liệu điện tử ký số có giá trị pháp lý như văn bản giấy. Đồng thời, quy định trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng... phải thực hiện kịp thời yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự (dù bằng văn bản giấy hay điện tử), khắc phục tình trạng trì hoãn cung cấp thông tin, phong tỏa tài khoản.
Luật cũng quy định rút ngắn nhiều thời hạn quan trọng trong quy trình tổ chức thi hành án như: Thời hạn xác minh điều kiện thi hành án, thời hạn thông báo thi hành án, thời hạn ký hợp đồng khai thác tài sản thi hành án, thời hạn ưu tiên mua tài sản thi hành án.
Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) gồm 5 Chương, 116 Điều có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 (trừ các quy định tại khoản 9 Điều 3; Điều 5; điểm g khoản 2 Điều 11; điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 8 và khoản 9 Điều 20; khoản 7 và khoản 8 Điều 21 và khoản 8 Điều 27 có hiệu lực thi hành từ ngày 20/1/2026).