Chánh án Nguyễn Văn Quảng: Thù lao luật sư phải được quy đổi bằng tiền
Từ thực tiễn phát sinh tranh chấp khi thanh toán thù lao luật sư bằng chính tài sản là đối tượng của vụ việc, Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng đề nghị bổ sung quy định yêu cầu giá trị thù lao luật sư phải được xác định và quy đổi bằng tiền, nhằm hạn chế tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Đề nghị không thanh toán bằng tài sản là đối tượng của vụ việc
Góp ý vào dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) tại Tổ 7, đại biểu Nguyễn Văn Quảng, Chánh án TANDTC, cho biết Luật Luật sư hiện hành đã quy định về thù lao và chi phí luật sư tại các điều 55, 56, 57 và 58. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số hợp đồng dịch vụ pháp lý thỏa thuận thanh toán thù lao bằng tài sản, quyền tài sản liên quan đến chính vụ việc được giải quyết, thay vì bằng tiền.
Tình trạng này thường phát sinh trong các vụ tranh chấp quyền sử dụng đất hoặc khiếu kiện về bồi thường, giải phóng mặt bằng. Có trường hợp luật sư thỏa thuận với khách hàng nhận một phần tài sản đòi được, chẳng hạn một phần quyền sử dụng đất được bồi thường, làm thù lao.

Dẫn chứng một vụ việc liên quan đến tranh chấp bồi thường, giải phóng mặt bằng, Chánh án Nguyễn Văn Quảng cho biết, theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, nếu đòi được tài sản thì luật sư sẽ được nhận một phần, tương đương 1/3 số lô đất.
Sau khi yêu cầu bồi thường được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận, tranh chấp tiếp tục phát sinh do bên có nghĩa vụ không thực hiện việc thanh toán thù lao cho luật sư. Vụ việc vì thế dẫn đến một vụ kiện khác, làm gia tăng tính phức tạp.
Từ thực tiễn xét xử, Chánh án Nguyễn Văn Quảng cho biết Tòa án đã xem xét, quyết định hủy phán quyết liên quan và đưa nội dung này vào án lệ, theo hướng không chấp nhận việc sử dụng chính tài sản là đối tượng được bảo vệ quyền lợi để thanh toán thù lao luật sư.
Đối với dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), Chánh án Nguyễn Văn Quảng cơ bản đồng tình với quy định tại khoản 3 Điều 18 về cung cấp dịch vụ pháp lý, trong đó cho phép luật sư và khách hàng thỏa thuận phương thức tính thù lao, các khoản chi phí trong hợp đồng dịch vụ pháp lý. Các phương thức được đề xuất gồm tính theo giờ làm việc, thù lao trọn gói, tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị vụ việc, hợp đồng dịch vụ pháp lý thường xuyên với mức thù lao cố định và các phương thức khác theo thỏa thuận.
Tuy nhiên, Chánh án TANDTC đề nghị bổ sung quy định theo hướng giá trị thù lao luật sư phải được xác định và quy đổi bằng tiền, không thanh toán trực tiếp bằng tài sản là đối tượng của vụ việc.
Quy định này sẽ góp phần khắc phục bất cập từ thực tiễn, hạn chế tranh chấp khi thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý, đồng thời bảo đảm sự rõ ràng trong thỏa thuận và thanh toán thù lao luật sư.

Cùng góp ý tại Tổ 7, đại biểu Trần Văn Tuấn (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Bắc Ninh) đề nghị bổ sung nguyên tắc phòng ngừa, xử lý xung đột lợi ích trong hoạt động hành nghề luật sư.
Theo đại biểu, quy định hiện nay chủ yếu nghiêm cấm cung cấp dịch vụ pháp lý cho các khách hàng có quyền lợi đối lập trong cùng vụ việc, chưa bao quát các nguy cơ phát sinh từ quan hệ với khách hàng cũ, lợi ích cá nhân hoặc hoạt động nội bộ của tổ chức hành nghề luật sư.
Đại biểu cho rằng, cần chủ động nhận diện, phòng ngừa xung đột lợi ích từ sớm, đồng thời quy định rõ cơ chế kiểm tra, xử lý, các trường hợp phải từ chối hoặc chấm dứt cung cấp dịch vụ pháp lý và những ngoại lệ phù hợp để bảo đảm tính độc lập, khách quan của luật sư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Đề nghị cân nhắc cho người không phải luật sư góp vốn vào công ty luật
Trước đó, trong báo cáo thẩm tra dự án Luật Luật sư (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cũng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, làm rõ một số quy định của dự thảo.
Cụ thể, về điều kiện trình độ đào tạo, Luật Luật sư hiện hành yêu cầu người muốn trở thành luật sư phải có bằng cử nhân luật. Trong khi đó, dự thảo đề xuất cho phép người có bằng thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật được trở thành luật sư. Cơ quan thẩm tra đề nghị đánh giá kỹ tác động của việc thay đổi tiêu chuẩn này để có phương án phù hợp.
Về tập sự hành nghề luật sư, Ủy ban cho rằng quy định cho phép luật sư tập sự “thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật về tố tụng” chưa khả thi trên thực tế. Nguyên nhân là các luật tố tụng hiện nay chỉ quy định chức danh luật sư tham gia hoạt động tố tụng, chưa có quy định về việc luật sư tập sự tham gia một số hoạt động này.
Đối với Hội đồng tuyển chọn luật sư, đa số ý kiến thành viên Ủy ban tán thành phương án giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập Hội đồng với thành phần như dự thảo. Một số ý kiến đề nghị nghiên cứu bổ sung đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Hội Luật gia Việt Nam.
Liên quan đến kỳ thi quốc gia về luật sư, một số ý kiến đề nghị tiếp tục nghiên cứu, chỉnh lý theo hướng kế thừa công việc đang thực hiện, đồng thời bảo đảm vị trí, vai trò của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong công tác này, phù hợp với chủ trương của Đảng tại Kết luận số 69 của Ban Bí thư.
Đối với luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam, dự thảo bổ sung nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc hằng năm. Tuy nhiên, theo cơ quan thẩm tra, điều kiện hành nghề đối với luật sư nước ngoài không yêu cầu phải có kiến thức về pháp luật Việt Nam hoặc đáp ứng các tiêu chuẩn như luật sư Việt Nam, trừ trường hợp tư vấn pháp luật Việt Nam. Vì vậy, quy định về bồi dưỡng bắt buộc cần được nghiên cứu, chỉnh lý để bảo đảm rõ ràng, minh bạch.
Một nội dung khác được cơ quan thẩm tra đặc biệt lưu ý là đề xuất cho phép công ty luật trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên tiếp nhận thành viên góp vốn không phải là luật sư, nếu đáp ứng các điều kiện về quy mô, thời gian hoạt động và tỷ lệ vốn góp theo quy định của Chính phủ.
Theo Tờ trình của Chính phủ, quy định này nhằm phát triển các tổ chức hành nghề luật sư có quy mô lớn, hoạt động chuyên nghiệp. Tuy nhiên, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận định đây là nội dung mới, liên quan trực tiếp đến tính độc lập nghề nghiệp và cơ chế quản lý hoạt động luật sư. Do đó, cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc kỹ quy định này hoặc nghiên cứu phương án thí điểm với phạm vi hạn chế, đi kèm cơ chế giám sát riêng biệt.
Đỗ Việt - Mai Đỉnh