Đề xuất cơ chế đặc thù, tạo động lực mới cho phát triển du lịch Việt Nam
Tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí hưởng ưu đãi, bảo đảm nguồn lực thực hiện và quyền lợi thực chất của cộng đồng dân cư tham gia hoạt động du lịch.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.

Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự thảo Nghị quyết nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo cơ chế, chính sách đột phá để khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, động lực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Dự thảo Nghị quyết sau khi tiếp thu, chỉnh lý gồm 14 điều với 7 nhóm chính sách: Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với dự án du lịch; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và liên kết cộng đồng trong hoạt động du lịch; hỗ trợ các mô hình kinh doanh du lịch mới gắn với nền tảng số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; thử nghiệm có kiểm soát một số mô hình kinh doanh du lịch; hỗ trợ phát triển nhân lực; áp dụng thị thực đặc biệt, tạo thuận lợi về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch.
Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, việc triển khai Nghị quyết cơ bản không làm phát sinh thêm nhân lực, bộ máy. Nguồn lực tài chính được bảo đảm từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn hợp pháp khác.
Bộ trưởng nhấn mạnh, khi được thông qua, Nghị quyết sẽ góp phần khơi thông nguồn lực, tạo đột phá cho phát triển du lịch, đồng thời định hình khung khổ pháp lý để Chính phủ kịp thời cụ thể hóa chính sách, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hồ sơ dự án cơ bản bảo đảm yêu cầu; nội dung phù hợp với Hiến pháp, tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và bám sát các chủ trương, định hướng lớn về phát triển du lịch.
Ủy ban cơ bản tán thành việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhằm tạo động lực thúc đẩy du lịch phát triển, nhất là đối với các dự án có khả năng dẫn dắt, lan tỏa. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu với các luật có liên quan, nhất là những dự án luật đang được trình Quốc hội tại kỳ họp này; hoàn thiện quy định về phân quyền, phân cấp và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi. Đồng thời, cần làm rõ tác động đối với ngân sách và phương án bảo đảm nguồn lực thực hiện từng chính sách.

Đối với các nguyên tắc thực hiện, Ủy ban đề nghị nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên đầu tư theo hiệu quả kinh tế - xã hội, gắn với phát triển du lịch bền vững; bảo đảm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cộng đồng dân cư, nhất là người dân vùng khó khăn, được tham gia và thụ hưởng thực chất. Cùng với đó, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lựa chọn dự án, áp dụng chính sách, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, trục lợi.
Về điều kiện, tiêu chí dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, Ủy ban cơ bản tán thành việc phân loại theo 5 tiêu chí về loại hình, quy mô, địa bàn, hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững. Tuy nhiên, cần làm rõ căn cứ xác định tính khả thi của tiêu chí vốn đầu tư tối thiểu và tỷ lệ vốn dành cho du lịch; ưu tiên chính sách đối với doanh nghiệp du lịch trong nước. Các dự án được hưởng ưu đãi phải loại trừ hợp phần kinh doanh ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược và kinh doanh bất động sản; đồng thời gắn ưu đãi với kết quả thực hiện.
Đối với du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái và du lịch làng nghề truyền thống quy mô vừa và nhỏ, Ủy ban đề nghị quy định rõ tiêu chí, điều kiện và cơ chế hỗ trợ phù hợp, bảo đảm người dân thực sự là chủ thể tham gia quản lý, cung ứng dịch vụ và thụ hưởng lợi ích, gắn với bảo tồn văn hóa, tri thức bản địa, bảo vệ môi trường và phát triển sinh kế bền vững.
Về điều khoản thi hành, Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát thời điểm có hiệu lực, thời điểm áp dụng và hết hiệu lực của các chính sách; làm rõ nguyên tắc lựa chọn ưu đãi có lợi hơn, không cộng dồn hoặc hưởng trùng lặp, vượt mức Quốc hội quyết định. Đồng thời, cần xác định rõ thời gian hưởng ưu đãi, điều kiện áp dụng đối với các dự án đã triển khai trước khi Nghị quyết có hiệu lực và nghĩa vụ tài chính trong giai đoạn chuyển tiếp.
Mai Đỉnh - Đỗ Việt