Ẩn mình giữa những dãy núi đá vôi trùng điệp của đại ngàn Trường Sơn, bản Yên Hợp hôm nay vẫn có những người dân tộc Chứt đã “luống” nửa cuộc đời, cặm cụi học từng con chữ.
Để có những lớp học hôm nay, đã có những người thầy dành cả một phần đời gắn bó với bản làng, vượt qua những mùa nước lớn, tìm đến từng mái nhà, kiên nhẫn với cả những học trò đã qua tuổi đến trường. Và rồi, từ chính những đứa trẻ lớn lên giữa núi rừng năm nào, đã có người trở về, tiếp nối công việc của những người thầy đi trước.
Ba thế hệ dưới một mái nhà
Cô giáo trẻ Cao Thị Lệ Hằng bên bà ngoại Hồ Thị Pé trong căn nhà gỗ của gia đình tại bản Yên Hợp. Ảnh: Thanh Trà
Trong ngôi nhà nhỏ giữa bản Yên Hợp, ba thế hệ phụ nữ người Rục cùng chung sống dưới một mái nhà. Bà Hồ Thị Pé đã già, đôi mắt mờ, bước chân chậm, mỗi lần đi lại đều cần con cháu dìu đỡ. Tuổi tác và những nhọc nhằn năm tháng in dấu trên dáng người, nhưng bà Pé vẫn giữ nét hiền hậu, chân chất của đồng bào Rục. Bên bà là con gái Hồ Thị Páy (SN 1972) và cô cháu ngoại Cao Thị Lệ Hằng (SN 2004), vừa tốt nghiệp đại học, trở về Yên Hợp làm giáo viên mầm non.
Hằng có gương mặt hiền, đôi mắt sáng, đôi lúc vẫn bẽn lẽn khi trò chuyện với khách lạ. Ít ai ngờ cô gái Rục có phần rụt rè ấy lại là người đầu tiên ở bản Yên Hợp bước chân vào giảng đường đại học.
Ở miền xuôi, chuyện một cô gái trẻ tốt nghiệp đại học rồi trở về quê nhà dạy học chẳng phải điều gì hiếm gặp. Nhưng ở Yên Hợp, nơi vẫn còn những học viên người Chứt ngấp nghé tuổi 50 miệt mài học đọc, học viết, hành trình từ bản làng đến giảng đường rồi trở về đứng lớp của Lệ Hằng mang một ý nghĩa thật khác.
Ba thế hệ cùng chung một mái nhà, nhưng cơ hội học hành lại khác nhau qua từng chặng. Bà ngoại Hằng đã ở tuổi xế chiều, người mẹ đi qua hơn nửa đời người giữa những thiếu thốn của bản làng, còn Hằng đã có thể rời núi rừng để học đại học, rồi trở về với tấm bằng cử nhân. Những đổi thay ở Yên Hợp, đôi khi hiện lên rõ nhất từ câu chuyện của một gia đình như thế.
Hằng theo học ngành Giáo dục mầm non. Những năm tháng xa nhà mở ra trước mắt cô gái Rục một thế giới rộng lớn hơn những dãy núi đá vôi bao quanh bản làng. Đã có lúc Hằng nghĩ đến chuyện tìm việc ở nơi khác sau khi tốt nghiệp. Nhưng càng đến gần ngày rời giảng đường, ý nghĩ trở về bản càng thôi thúc em.
Ở đó có gia đình, có những đứa trẻ đang lớn lên giữa núi rừng như Hằng thuở nhỏ. Chính những năm tháng tuổi thơ ở giữa thung lũng Rục Làn khiến em thấm thía những khó khăn mà trẻ em quê mình gặp phải khi bắt đầu đến tuổi đi học.
Cô giáo trẻ Lệ Hằng trong một tiết dạy tại Trường Mầm non số 1 Kim Phú, bản Yên Hợp, xã Kim Phú, Quảng Trị.
Năm 2026, Hằng tốt nghiệp đại học, trở về nhận công tác tại Trường Mầm non số 1 Kim Phú, ngay trên địa bàn bản Yên Hợp. Những ngày cuối tháng 10, cô giáo trẻ mới bắt đầu làm quen với công việc đứng lớp. Trước mặt em là những đứa trẻ có em còn rụt rè, ít nói, chưa mạnh dạn giao tiếp; có em tiếp thu chậm hơn các bạn, cần được hướng dẫn nhiều lần mới quen với hoạt động học tập.
Lớn lên giữa đại ngàn, Lệ Hằng hiểu những rụt rè của trẻ nhỏ nơi bản làng em sống. Với em, điều quan trọng không chỉ là dạy các em những kỹ năng đầu đời, mà còn giúp các em biết tự tin bày tỏ, mạnh dạn vui chơi, giao tiếp với mọi người xung quanh. Từ một lời động viên, một cử chỉ ân cần, Hằng đang từng bước giúp những đứa trẻ thêm yêu lớp, mến cô, để mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui.
Trước khi trở về đứng lớp, Hằng đã có một dấu mốc đáng nhớ trong những năm tháng sinh viên. Năm 2025, em được kết nạp vào Đảng. Anh trai Hằng, vốn là một đảng viên, đã sớm khơi dậy ở Hằng mong muốn phấn đấu, rèn luyện và làm được điều gì đó có ích cho quê hương.
“
“Thấy anh trai được đứng trong hàng ngũ của Đảng, em cũng muốn cố gắng để được như anh. Em nghĩ mình phải học tập, rèn luyện thật tốt, sau này có thể góp chút gì đó có ích cho quê mình”.
- Cô giáo Cao Thị Lệ Hằng chia sẻ -
Trở về Yên Hợp, Hằng tham gia sinh hoạt tại Chi bộ bản Yên Hợp, cùng các đảng viên trong chi bộ và bà con góp sức vào những công việc chung. Trong đó có mô hình thí điểm trồng dứa đang được triển khai, mở thêm hướng sinh kế cho đồng bào trên vùng đất vốn không dễ canh tác. Những luống dứa mới xuống giống còn cần thời gian chăm sóc, chưa đến ngày thu hoạch, nhưng đã có thêm những người trẻ như Hằng tham gia vào công việc của bản.
Từ giảng đường đại học trở về, Hằng bắt đầu cuộc sống của một đảng viên trẻ bằng những việc gần gũi với quê hương: tham gia sinh hoạt chi bộ, cùng bà con tìm hướng làm ăn và mỗi ngày đến trường chăm sóc những đứa trẻ người Rục.
Với Hằng, trở về Yên Hợp cũng là trở về với những con đường, những mùa mưa lũ đã gắn bó cùng em từ thuở nhỏ. Cô giáo trẻ mới bắt đầu những ngày đầu tiên đứng lớp, còn trên chính vùng đất ấy, đã có những người thầy nhiều năm bền bỉ giữ lớp, giữ trò qua bao mùa nước lớn.
Những người thầy qua mùa nước lớn
Những chuyến thuyền do chính quyền địa phương, bộ đội biên phòng và người dân bản phối hợp tổ chức trở thành phương tiện đưa thầy cô vượt qua vùng ngập lũ để vào các điểm trường.
Mỗi mùa mưa đến, con đường vào bản Yên Hợp lại trở thành nỗi lo của những giáo viên đang công tác ở nơi đây. Thung lũng Hung Trâu có khi ngập sâu, nước dâng trắng cả một vùng, nhấn chìm lối đi suốt hơn nửa tháng. Những chuyến thuyền do chính quyền địa phương, bộ đội biên phòng và người dân bản phối hợp tổ chức trở thành phương tiện đưa thầy cô vượt qua vùng ngập lũ để vào các điểm trường.
Sách vở, đồ dùng được bọc kỹ, cùng tư trang, lương thực và những nhu yếu phẩm đủ dùng trong nhiều ngày. Có những đợt, giáo viên phải ở lại bản từ đầu tuần đến cuối tuần, chờ nước rút mới có thể trở về. Giữa những mùa nước lớn ấy, các lớp học vẫn được duy trì, dù việc đi lại, ăn ở của thầy cô không ít lần bị đảo lộn.
Mỗi mùa nước lớn, khi đường vào bản chìm trong biển nước, những chuyến thuyền được chính quyền địa phương, Bộ đội Biên phòng và người dân phối hợp tổ chức lại đưa thầy cô vượt qua vùng ngập lũ, tiếp tục hành trình đến với học trò.
Thầy Hồ Tiến Nam (SN 1988), một đảng viên đang giảng dạy tại điểm trường thuộc Trường Tiểu học và THCS Thượng Hóa, đã gắn bó với địa bàn từ tháng 10/2023. Lớp thầy Nam chủ nhiệm có 14 học sinh, ghép từ hai khối 4 và 5. Chừng ấy em nhỏ, nhưng người thầy phải đồng thời thực hiện chương trình của hai lớp, với những yêu cầu kiến thức và khả năng tiếp thu khác nhau.
Trong một buổi học, khi nhóm học sinh lớp 4 làm bài, thầy dành thời gian hướng dẫn lớp 5, rồi lại quay sang kiểm tra, giải thích cho các em nhỏ hơn. Có những nội dung phải giảng chậm, nhắc lại nhiều lần, tìm những ví dụ gần gũi để các em học sinh dễ hiểu, có thể nắm bắt được kiến thức.
Thầy giáo Hồ Tiến Nam (sinh năm 1988), đảng viên gắn bó với bản Yên Hợp từ tháng 10/2023, trong một tiết học tại điểm trường thuộc Trường Tiểu học và THCS Thượng Hóa. Ảnh: Thanh Trà
Theo thầy Nam, nếu chỉ áp dụng máy móc phương pháp giảng dạy thông thường, nhiều học sinh sẽ khó theo kịp chương trình. Sự chênh lệch về kiến thức, khả năng tiếp thu đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt trong từng bài giảng, kiên nhẫn với từng em.
Nhưng điều khiến thầy Nam trăn trở không chỉ nằm trong những trang vở.
Thầy vẫn nhớ những ngày đông, có học sinh đến trường mà không đủ áo ấm. Những hôm mưa gió, có em chân đất, đội mưa trên đường đi học. Trong 14 học trò lớp ghép thầy phụ trách, có 05 em thuộc hộ nghèo. Một số em có cha mẹ đi làm ăn xa, phải sống cùng ông bà, thiếu sự chăm sóc thường xuyên của gia đình.
Lớp ghép khối 4 và khối 5 với 14 học sinh do thầy Hồ Tiến Nam phụ trách tại điểm trường bản Yên Hợp. Ảnh: Thanh Trà
Những thiếu thốn ấy theo các em vào lớp học. Có em chưa hoàn thành bài tập, có em nghỉ học, trong khi người thân còn phải xoay xở với bao lo toan thường nhật. Muốn biết vì sao học trò vắng lớp, vì sao việc học của một em chưa tiến bộ, nhiều khi người thầy phải tìm đến tận nhà.
Thầy Nam đã không ít lần như thế. Sau giờ lên lớp, thầy đến gặp gia đình, hỏi han hoàn cảnh, động viên các em tiếp tục đi học. Những cuộc trò chuyện giúp thầy hiểu thêm cuộc sống của học trò, từ đó tìm cách hướng dẫn, hỗ trợ phù hợp hơn. Có những khó khăn không thể nhận ra chỉ qua một bài kiểm tra hay một buổi học trên lớp.
“
“Tôi về Yên Hợp dạy học từ năm 2023. Ở đây, muốn dạy tốt thì trước hết phải hiểu hoàn cảnh của từng học trò. Có em nghỉ học không phải vì không muốn đến trường, mà vì gia đình còn nhiều khó khăn. Những lúc như rứa, mình phải tìm đến tận nhà, hỏi han, động viên cả phụ huynh lẫn các em. Dạy được một bài học đã quý, nhưng giữ được các em tiếp tục đến lớp còn quan trọng hơn”.
- Thầy Hồ Tiến Nam chia sẻ. -
Ở lớp ghép của thầy Nam, những đứa trẻ đang từng ngày học đọc, học viết, học cách bước ra khỏi những rụt rè của tuổi thơ. Còn tại điểm trường Ón, cũng giữa vùng núi ấy, có những học trò đã đi qua gần nửa đời người mới bắt đầu làm quen với từng con chữ.
Lớp học sáng đèn giữa đại ngàn
Lớp xóa mù chữ dành cho 19 học viên người dân tộc Chứt tại điểm trường Ón, Trường Tiểu học và THCS Thượng Hóa, xã Kim Phú, tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Thanh Trà
Ở điểm trường Ón, thuộc Trường Tiểu học và THCS Thượng Hóa, xã Kim Phú, có một lớp học đặc biệt. Người thầy đứng lớp đã 50 tuổi, còn học viên lớn tuổi nhất cũng đã 47. Chỉ cách nhau vỏn vẹn 03 tuổi, thầy và trò gặp nhau trong những buổi tối học xóa mù chữ. Ở đó, những người đã đi qua gần nửa đời người vẫn miệt mài học đọc, học viết, bù đắp những khoảng trống kiến thức qua nhiều năm tháng.
19 học viên người dân tộc Chứt đang học lại những con chữ mà phần lớn cuộc đời họ chưa có dịp làm quen. Người lớn tuổi nhất sinh năm 1979, người trẻ nhất sinh năm 1998. Có người đến lớp khi đã bước qua tuổi bốn mươi, ở độ tuổi mà chuyện học hành tưởng chừng đã lùi rất xa sau những lo toan sinh kế.
Năm tối mỗi tuần, họ đều đặn đến điểm trường. Không phải vì công việc nương rẫy đã vơi, hay gánh nặng gia đình đã nhẹ đi, mà bởi giữa những bộn bề ấy, việc học chữ đang dần trở thành một lựa chọn được bà con dành thời gian và công sức để theo đuổi.
Khai giảng từ tháng 5/2025, khóa học dự kiến kết thúc vào mùa xuân năm tới. Đến nay, lớp đã bước sang kỳ học thứ tư. Một hành trình không ngắn đối với những người phải bắt đầu từ những kiến thức căn bản khi đã ở tuổi trưởng thành.
Với những học viên đặc biệt này, biết chữ trước hết là để bớt đi sự phụ thuộc vào người khác trong những việc thường ngày. Nhưng phía sau mong muốn giản dị ấy là một thử thách không nhỏ: học khi trí nhớ không còn nhanh nhạy như thuở thiếu thời, khi mỗi buổi đến lớp đều phải cân nhắc với công việc và trách nhiệm gia đình.
Ở tuổi mà nhiều người đã lo chuyện học hành cho con cháu, họ lại bắt đầu hành trình học chữ của chính mình.
Người đứng lớp là thầy giáo Đinh Xuân Quý (sinh năm 1976), một đảng viên đã có 23 năm gắn bó với đồng bào Rục. Chừng ấy thời gian đủ để thầy hiểu nếp ăn, nếp ở, phong tục và cả tiếng nói của bà con.
Thầy Quý nói thuần thục tiếng đồng bào Rục.
Thầy giáo Đinh Xuân Quý trong một buổi dạy xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc Chứt tại điểm trường Ón, xã Kim Phú, tỉnh Quảng Trị.
Với những học viên đã ở tuổi làm cha, làm mẹ, sự gần gũi ấy giúp thầy không chỉ truyền đạt bài học mà còn hiểu được những khó khăn, ngại ngần của người lớn khi trở lại trường.
Sự am hiểu tiếng nói, đời sống đồng bào không chỉ có ở riêng thầy Quý. Thầy Phan Thế Dũng, Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Thượng Hóa, cho biết nhà trường hiện có 30 đảng viên trên tổng số 31 người. Đa số các thầy cô có thể giao tiếp bằng tiếng Rục. Đó là sự gần gũi được bồi đắp qua quá trình công tác, khi việc hiểu ngôn ngữ, phong tục và nếp sinh hoạt của bà con trở thành một phần quan trọng trong công việc giảng dạy, trao đổi với phụ huynh và vận động học sinh đến trường.
“
“Dạy chữ cho người lớn tuổi không thể nóng vội được. Mỗi người một hoàn cảnh, một khả năng tiếp thu. Có những điều trẻ con học rất nhanh, nhưng người lớn phải mất nhiều thời gian mới nhớ được. Mình phải kiên nhẫn, giảng đi giảng lại, làm sao để bà con hiểu bài mà không thấy ngại. Điều tôi mong nhất là bà con đừng nản, cứ chịu khó đến lớp rồi dần dà sẽ biết đọc, biết viết”.
- Thầy Cao Xuân Quý chia sẻ -
Ở Yên Hợp, từ những lớp ghép của trẻ nhỏ đến lớp xóa mù chữ dành cho người trưởng thành, công việc của các thầy cô nơi đây chưa bao giờ chỉ gói gọn trong những trang giáo án. Muốn giữ một đứa trẻ đến trường, phải hiểu những nhọc nhằn phía sau mỗi lần em vắng lớp. Muốn người lớn Rục không bỏ dở việc học, phải hiểu cả những ngại ngần mà họ ít khi nói ra. Và để thực sự gần dân, đôi khi phải bắt đầu từ việc học tiếng nói của chính đồng bào.
Đêm xuống, giữa đại ngàn, lớp học ở điểm trường Ón vẫn sáng đèn.
Có những đổi thay nơi bản làng không dễ nhận ra trong ngày một ngày hai. Chúng đến chậm rãi, qua từng buổi học, từng người biết thêm một chữ, từng cơ hội được mở ra từ những điều tưởng chừng rất đỗi bình thường.
Như Lệ Hằng, từ giảng đường đại học trở về bản, bắt đầu hành trình của một cô giáo trẻ. Như thầy Nam, bền bỉ giữ lớp, giữ trò qua những mùa nước lớn. Và thầy Quý, vẫn dành những buổi tối dạy chữ cho bà con. Ba đảng viên, ba chặng đường khác nhau, cùng chọn gắn bó với việc học của đồng bào Rục, bằng những công việc lặng thầm.
Những thửa ruộng Rục Làn đã phải qua nhiều mùa gieo cấy để bà con quen với cách làm ăn mới. Việc gieo chữ ở Yên Hợp cũng cần từng ấy nhẫn nại. Người đi trước vẫn bền bỉ, người trẻ đã trở về tiếp nối. Giữa đại ngàn, những đổi thay cứ thế được vun đắp, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Thực hiện: Thanh Trà Ảnh, Video: Thanh Trà, Đồn Biên Phòng Cà Xèng, Trường Tiểu học và THCS Thượng Hóa