Kỳ 4: Hạnh phúc là sự bình yên trong lòng người
Bốn mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước (1986 - 2026) là một chặng đường lịch sử mang ý nghĩa trọng đại, đánh dấu sự vươn mình mạnh mẽ và bền bỉ của dân tộc Việt Nam. Thành tựu có ý nghĩa lịch sử ấy không chỉ được đo lường bằng những con số tăng trưởng kinh tế, mà sâu xa và cốt lõi hơn, nó được phản chiếu sinh động qua đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao của Nhân dân.
Độc lập, tự do tạo nền tảng để Nhân dân xây dựng cuộc sống của mình. Khi điều kiện vật chất được cải thiện, con người có thêm khả năng học hỏi, tham gia sinh hoạt cộng đồng, chăm sóc gia đình và theo đuổi những nhu cầu tinh thần.
Việc đưa những thành quả vĩ đại của sự nghiệp phát triển thấm sâu vào những phương diện thiết thực ấy là một nhiệm vụ mang tính chiến lược, lâu dài của công cuộc xây dựng đất nước. Nhiệm vụ này đòi hỏi sự hội tụ đồng bộ của các nguồn lực, cách thức tổ chức khoa học và đặc biệt là sự tham gia tích cực, tự giác của đông đảo người dân.



Từ năm 1986 đến nay, quá trình đổi mới đã làm thay đổi diện mạo đất nước và đời sống xã hội. Cùng với kinh tế phát triển là điều kiện giao lưu, học tập, tiếp cận thông tin và thụ hưởng văn hóa được mở rộng. Những giá trị truyền thống có thêm cơ hội được gìn giữ, giới thiệu; người dân có thêm phương tiện để sáng tạo và tham gia vào đời sống chung. Đó là nền tảng quan trọng để hạnh phúc được bồi đắp sâu hơn trong từng gia đình, cộng đồng.
Từ việc khắc phục thiếu thốn trong giai đoạn đầu đổi mới, đất nước từng bước có điều kiện dành thêm nguồn lực cho bảo tồn di sản, xây dựng thiết chế văn hóa và mở rộng giao lưu quốc tế. Cùng với đầu tư của Nhà nước là đóng góp của người dân, nghệ nhân, văn nghệ sĩ và doanh nghiệp. Quá trình ấy cho thấy năng lực kinh tế được tích lũy có thể chuyển thành điều kiện giữ gìn bản sắc, phát triển sáng tạo và làm giàu đời sống tinh thần. Đó là thành quả cần tiếp tục phát huy trong giai đoạn mới.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đánh giá thành tựu 40 năm đổi mới, khẳng định vai trò chủ thể, trung tâm của Nhân dân và yêu cầu nâng cao đời sống, hạnh phúc trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Tinh thần ấy đặt con người vào vị trí quyết định khi lựa chọn mục tiêu và cách sử dụng nguồn lực. Sự phát triển cần được nhận ra trong mức độ an toàn, sự gắn bó cộng đồng và điều kiện để mỗi người sống có ý nghĩa.
Những yêu cầu ấy ngày càng cụ thể trong quá trình đô thị hóa, chuyển dịch lao động và phát triển công nghệ. Gia đình cần thời gian bên nhau; người cao tuổi cần sự quan tâm; trẻ em cần môi trường lành mạnh để trưởng thành. Cộng đồng cần không gian gặp gỡ và những hoạt động giúp con người gần nhau hơn. Chăm lo hạnh phúc đòi hỏi quan tâm đến các nhu cầu ấy ngay trong quy hoạch, tổ chức dịch vụ và xây dựng chính sách phát triển.
Các nghị quyết gần đây tiếp tục hướng vào những yêu cầu mới của cuộc sống. Đầu tư cho văn hóa, chăm lo người có công, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh giúp thành quả kinh tế có chiều sâu nhân văn. Khi người dân nhận thấy sự quan tâm đến những điều mình trăn trở, mối gắn bó với cộng đồng và niềm tin vào đường lối phát triển có thêm cơ sở bền vững.
Báo cáo năm 2025 của Cục Thống kê ghi nhận bốn di sản, tư liệu và loại hình văn hóa Việt Nam lần đầu được UNESCO ghi danh trong năm. Những ghi nhận quốc tế tạo thêm điều kiện giới thiệu văn hóa đất nước, đồng thời đặt ra trách nhiệm gìn giữ trong đời sống. Người dân sống cùng di sản cần được tham gia bảo tồn, được tôn trọng tri thức và hưởng lợi phù hợp từ hoạt động khai thác giá trị văn hóa.


Sự bình yên bắt đầu từ những nơi con người gắn bó hằng ngày. Trong gia đình, đó là sự tôn trọng, chia sẻ, chăm sóc giữa các thế hệ. Ở trường học, đó là khả năng học tập, vui chơi trong môi trường an toàn. Tại nơi làm việc và khu dân cư, đó là cách ứng xử có trách nhiệm, ý thức tuân thủ quy định và sự giúp đỡ khi có người gặp khó khăn. Những điều gần gũi ấy quyết định cảm nhận của mỗi người về chất lượng sống.
Thành quả phát triển mở rộng khả năng đáp ứng những nhu cầu đó, đồng thời đặt ra trách nhiệm xử lý các vấn đề còn tồn tại. Báo cáo chuyên đề về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV tháng 10/2026 chỉ rõ ô nhiễm không khí, ngập úng, ùn tắc giao thông, cháy nổ chưa được xử lý triệt để; an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao còn phức tạp. Nhận diện các vấn đề này giúp xác định đúng những việc phải tiếp tục làm để bảo vệ cuộc sống.
Vì thế, chăm lo hạnh phúc cần gắn với năng lực phòng ngừa rủi ro trong quản trị hằng ngày. Quy hoạch phải tính đến điều kiện sinh hoạt, hạ tầng thoát nước, không gian công cộng. Việc quản lý công trình, cơ sở sản xuất, nơi đông người phải bảo đảm yêu cầu an toàn. Sự chủ động ở từng khâu giúp giảm những tổn thất có thể phòng tránh, giữ gìn cuộc sống mà người dân đã dành nhiều công sức gây dựng.
Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số. Phạm vi ấy cho thấy văn hóa gắn với cách con người ứng xử, với những chuẩn mực được thực hành mỗi ngày. Sự tôn trọng, trung thực, trách nhiệm và ý thức sẻ chia góp phần làm cho các quan hệ xã hội bền chặt, tạo sự yên tâm trong đời sống.
Trên môi trường số, nhu cầu ấy càng rõ. Khả năng kết nối cần đi cùng kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, bảo vệ đời sống riêng tư, ứng xử có trách nhiệm và hỗ trợ người dễ bị tổn thương. Gia đình, nhà trường, cơ quan quản lý và đơn vị cung cấp dịch vụ đều có phần việc cụ thể. Xây dựng môi trường thông tin lành mạnh giúp người dân sử dụng công nghệ để học tập, làm việc, giao lưu mà giảm những rủi ro tác động đến cuộc sống tinh thần.
Ở cơ sở, sức mạnh cộng đồng cần được nuôi dưỡng bằng những việc có thể tham gia và duy trì lâu dài. Một hoạt động chăm sóc người già, một nhóm hỗ trợ trẻ em, một sinh hoạt văn hóa phù hợp có thể tạo thêm sự gắn bó giữa những người cùng sinh sống. Sự quan tâm thường xuyên giúp nhận diện khó khăn sớm và tạo điều kiện để người cần hỗ trợ tìm được nơi chia sẻ. Hạnh phúc được bồi đắp từ chính những quan hệ có trách nhiệm như thế.


Trong dòng chảy hối hả của sự phát triển, có những nỗi khắc khoải và sự chờ đợi đằng đẵng kéo dài hơn nửa thế kỷ mà thời gian dường như không thể làm phai mờ. Đất nước đang trên đà đổi thay diệu kỳ từng ngày, nhưng với rất nhiều gia đình liệt sĩ, một phần cuộc đời họ vẫn gắn chặt với câu hỏi đau đáu: người thân yêu của mình đang nằm lại nơi đâu?
Niềm mong mỏi ấy có khi đã được gửi gắm, trao truyền từ thế hệ cha mẹ sang con cháu. Công tác chăm lo hạnh phúc của Nhân dân đòi hỏi phải thấu hiểu sâu sắc cả những khoảng trống tinh thần to lớn do chiến tranh để lại, kiên trì thực hiện trọn vẹn trách nhiệm với những thế hệ đã dũng cảm hy sinh và những gia đình vẫn còn mỏi mòn ngóng đợi.
Mang ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, ngày 2/4/2026, tại mảnh đất lịch sử Thành cổ Quảng Trị, Ban Chỉ đạo quốc gia đã phát động Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, một chiến dịch lớn hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ vào năm 2027. Sự khẩn trương, thần tốc của chiến dịch bắt nguồn từ đòi hỏi bức thiết của điều kiện thực tế: các nhân chứng lịch sử ngày càng thưa vắng, thân nhân ngày càng cao tuổi.
Tính đến ngày 15/10/2026, toàn quốc đã nỗ lực tìm kiếm, cất bốc và quy tập được 3.666 hài cốt liệt sĩ; đồng thời hoàn thành việc lấy mẫu đối với 211.300 hài cốt liệt sĩ để phục vụ công tác xác minh danh tính. Kết quả của đợt lấy mẫu này đã mở thêm cơ sở khoa học vững chắc cho công tác giám định, đối sánh và xác minh lâu dài. Mỗi bước đi, mỗi quy trình đều đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối, bởi một kết luận khoa học có liên quan trực tiếp đến tên tuổi của một người đã hiến dâng cả thanh xuân cho đất nước, và là niềm mong mỏi sâu nặng của cả một gia đình.
Sáng ngày 14/10/2026, một sự kiện mang ý nghĩa tri ân sâu sắc đã diễn ra khi Thành phố Hồ Chí Minh long trọng tổ chức lễ viếng, truy điệu và an táng 731 hài cốt liệt sĩ được tìm kiếm, quy tập tại Công viên văn hóa Lê Thị Riêng.
Dọc theo các tuyến đường mà đoàn xe đi qua, đông đảo người dân đã thành kính cầm hoa trắng và Quốc kỳ, nghiêng mình tiễn đưa các anh hùng liệt sĩ về yên nghỉ vĩnh hằng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố. Hình ảnh bi tráng và thiêng liêng ấy đã làm hiện lên một cách sống động sự gắn bó máu thịt, thống nhất cao độ giữa trách nhiệm to lớn của Nhà nước với lòng biết ơn vô hạn của cả cộng đồng xã hội.
Những người dân có mặt bên đường phố hôm ấy thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Sự tưởng nhớ, tri ân đã được tiếp nối bằng một hành động chung mang tính biểu tượng, đưa ký ức hào hùng của dân tộc thấm sâu vào đời sống hôm nay. Đối với các gia đình liệt sĩ, sự quan tâm thiết thực, bền bỉ của đất nước thực sự là một nguồn an ủi vô giá.
Với những người đang sống, đó là lời nhắc nhở sâu sắc về trách nhiệm phải gìn giữ, bảo vệ những giá trị thiêng liêng đã được đánh đổi bằng xương máu, hy sinh. Đời sống tinh thần của toàn xã hội đang được nuôi dưỡng, bồi đắp từ chính những cách ứng xử trọn vẹn nghĩa tình và cụ thể như vậy.
Hành trình tri ân đền ơn đáp nghĩa dẫu biết còn dài và nhiều gian nan. Mỗi phần hài cốt được tìm thấy, mỗi danh tính liệt sĩ được xác định và trả lại tên cho anh là kết quả của vô vàn công việc âm thầm, lặng lẽ. Sự kiên trì, bền bỉ ấy đã thể hiện rõ nét chiều sâu nhân văn của chính sách phát triển vì con người; dẫu đất nước phát triển đến đâu, thì trách nhiệm cao cả với người có công và việc đền đáp những mất mát của Nhân dân vẫn phải được thực hiện đến cùng. Đó là một phương diện rực sáng của việc xây dựng nền tảng hạnh phúc vững chắc trong một xã hội văn minh, biết trân trọng đạo lý và tận tâm chăm lo cho từng số phận.


Những cành hoa trắng lặng lẽ đặt bên đường tiễn đưa hài cốt các liệt sĩ cho thấy văn hóa luôn hiện diện từ những điều dung dị nhất: trong cách người Việt ứng xử với lịch sử, với đồng bào và với những người đã khuất. Bốn mươi năm đổi mới trôi qua, khi gánh nặng mưu sinh vơi dần, người dân có thêm thời gian và điều kiện để chăm chút cho các giá trị tinh thần. Vấn đề giờ đây không chỉ là đất nước có thêm bao nhiêu công trình, mà làm sao để những điều kiện vật chất ấy thực sự hóa thân thành một nếp sống phong phú, lành mạnh, gắn bó tự nhiên với sinh hoạt thường ngày của mỗi gia đình.
Một thiết chế văn hóa, dù được xây khang trang bề thế đến đâu, giá trị thực sự vẫn nằm ở việc nó gắn bó thế nào với người dân. Những ngôi nhà văn hóa, những quảng trường rộng lớn chỉ thực sự có hồn khi ở đó có hơi ấm và tiếng cười của con người, thay vì chịu cảnh cửa đóng then cài. Đặt sự thụ hưởng của người dân vào vị trí trung tâm chính là cách tốt nhất để nguồn lực xã hội không bị lãng phí.
Tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW cũng xuất phát từ chính thực tế ấy, khi nhìn nhận người dân không chỉ là người tạo ra mà còn là chủ nhân thụ hưởng các giá trị văn hóa. Đưa nguồn lực, đưa các hoạt động văn hóa về những nơi còn thiếu thốn chính là cách san sẻ hạnh phúc thiết thực nhất.
Sự quan tâm ấy đang từng bước thành hình qua Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026), với quyết định dành tối thiểu 2% ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa. Dòng ngân sách này không nằm yên trên giấy. Nó sẽ biến thành những đổi thay cụ thể khi các thư viện, bảo tàng, không gian sinh hoạt chung có thêm nguồn lực để làm mới mình, tạo ra những sinh hoạt đủ sức níu chân cộng đồng.
Có một niềm vui rất đỗi đời thường từ Nghị quyết này, bắt đầu từ năm 2026, ngày 24/11 hằng năm trở thành Ngày Văn hóa Việt Nam, và người lao động có thêm một ngày nghỉ nguyên lương. Ngày hôm ấy, các không gian văn hóa, thể thao công lập cũng sẽ rộng cửa đón người dân với chính sách miễn, giảm phí. Quỹ thời gian nghỉ ngơi, kết hợp với sự hỗ trợ về chi phí, như một khoảng lặng cần thiết giữa nhịp sống hối hả để mỗi người có cơ hội tái tạo năng lượng tinh thần.
Suy cho cùng, sức sống của văn hóa bắt nguồn từ chính hơi thở của người dân. Thói quen đọc một trang sách, hát một làn điệu dân ca, hay lối ứng xử nhường nhịn nhau nơi ngõ hẻm... chính là những dòng suối nhỏ đắp bồi nên đời sống tinh thần chung. Những chính sách văn hóa tốt nhất luôn là những chính sách biết trân trọng và nhường không gian cho các sáng kiến dung dị ấy từ cộng đồng. Bởi một nếp sống văn minh chỉ thực sự bám rễ khi tự mỗi người thấy mình là một phần trong đó.
Giá trị vĩ đại của độc lập, tự do, sau cùng, luôn lắng đọng trong những điều bình dị; là một môi trường sống an lành, là cách những người đang sống thủy chung tri ân người nằm xuống, là sự chăm lo cho một thế hệ được lớn lên trọn vẹn cả về thể chất lẫn tâm hồn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khi độc lập và tự do được đong đếm bằng chất lượng sống thực tế, bằng tình nghĩa đồng bào hằng ngày, đó sẽ là chất keo tự nhiên và bền chặt nhất gắn kết mỗi con người với quê hương, cùng nhau bước về phía trước.
Nhóm PV