Kỳ 2: Tự do – làm chủ cuộc đời, kiến tạo tương lai
Độc lập xác lập quyền tự quyết của dân tộc; tự do khẳng định địa vị làm chủ của mỗi người trên đất nước mình. Từ lá phiếu năm 1946 đến những quyền hiến định hôm nay, bảo đảm tự do là quá trình xây dựng thể chế, kiểm soát quyền lực và mở rộng cơ hội phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, giá trị ấy phải được thể hiện trong khả năng tham gia, lựa chọn, sáng tạo và bảo vệ quyền hợp pháp của người dân.
Trong mạch giá trị “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, tự do gắn thành quả giành lại chủ quyền quốc gia với cuộc sống của từng người. Một dân tộc làm chủ vận mệnh phải tạo dựng điều kiện để người dân làm chủ cuộc đời mình. Quyền tự do được tôn trọng, bảo vệ cũng góp phần củng cố sức mạnh và khả năng tự chủ của dân tộc.
Bởi vậy, tự do cần được nhìn nhận trong cả quyền và điều kiện thực hiện quyền: được bày tỏ ý kiến, tham gia công việc chung; được bảo vệ phẩm giá, đời sống riêng tư; được học tập, lao động, kinh doanh, sáng tạo. Chiều sâu của nền quản trị vì dân thể hiện ở việc những quyền ấy đi vào đời sống bằng cơ chế rõ ràng, trách nhiệm công vụ và cơ hội người dân có thể tiếp cận.



Ngày 5/1/1946, trước cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình". Lời kêu gọi của Bác khẳng định vị thế chủ thể của Nhân dân trong chế độ mới.
Nền độc lập khi ấy mới giành được hơn bốn tháng. Chính quyền cách mạng phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, hậu quả nạn đói và nạn mù chữ. Quyết tâm tổ chức Tổng tuyển cử thể hiện tầm nhìn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: xây dựng nền tảng dân chủ, pháp lý của nhà nước, củng cố sức mạnh bảo vệ độc lập bằng sự tham gia và niềm tin của Nhân dân.
Ngày 6/1/1946, 89% cử tri tại 71 tỉnh, thành phố đã đi bỏ phiếu, bầu 333 đại biểu Quốc hội khóa I. Người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, thực hiện quyền bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Từ thân phận bị trị, người dân trở thành công dân có quyền lựa chọn cơ quan đại diện của quốc gia. Đó là sự chuyển biến căn bản về địa vị chính trị và ý thức làm chủ.
Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp năm 1946, đặt nền móng tổ chức quyền lực nhà nước và ghi nhận các quyền tự do, dân chủ. Lá phiếu xác lập sự ủy quyền của Nhân dân, gắn với trách nhiệm của người đại diện trước cử tri. Nhân dân thực hiện quyền lực thông qua các thiết chế đại diện, đồng thời tham gia, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực đó.
Tám mươi năm sau, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ngày 15/3/2026 có hơn 76 triệu cử tri đi bỏ phiếu, đạt tỷ lệ 99,70%. Điều kiện lịch sử đã thay đổi, quy mô đất nước mở rộng, nhưng giá trị cốt lõi của lá phiếu vẫn là sự ủy quyền chính trị từ Nhân dân.
Quyền làm chủ tiếp tục hiện diện trong xây dựng và thực thi chính sách. Người dân cần thông tin để thảo luận, kênh góp ý để đề xuất, cơ chế giám sát để phát hiện bất cập và được phản hồi về kiến nghị. Mỗi ý kiến có trách nhiệm là một nguồn lực cho quản trị quốc gia. Tôn trọng tiếng nói của người dân, kể cả ý kiến phản biện, giúp cơ quan công quyền nhận diện vấn đề sớm và quyết định thận trọng hơn.
Việc lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) qua VNeID từ ngày 23/9 đến 7/10/2026 mở thêm kênh tham gia xây dựng pháp luật. Giá trị thực chất của cơ chế này không chỉ nằm ở việc mở kênh tiếp nhận, mà ở quá trình xử lý ý kiến, kiến nghị nào được tiếp thu, đề xuất nào chưa phù hợp và lý do vì sao. Lắng nghe và phản hồi là điều kiện để quyền làm chủ được thực hiện thường xuyên, thực chất.


Quyền tự do cần nền tảng pháp lý vững chắc và cơ chế bảo vệ hữu hiệu. Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025, khẳng định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đặt ngay sau chương về chế độ chính trị, thể hiện vị trí của con người trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước.
Bình đẳng trước pháp luật; bất khả xâm phạm về thân thể; tự do ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng, tôn giáo; tự do đi lại, cư trú, kinh doanh… gắn với phẩm giá và đời sống cụ thể. Hiến pháp ghi nhận các quyền ấy cùng nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm của Nhà nước. Mỗi thủ tục hành chính, quyết định quản lý hay hoạt động công vụ đều phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Tự do không đồng nghĩa với tùy ý. Việc thực thi quyền tự do cá nhân không được xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và quyền tự do của người khác. Quyền công dân gắn liền với nghĩa vụ, với trách nhiệm trước cộng đồng. Bảo vệ sự bình yên của đất nước cũng là bảo vệ môi trường để mỗi người được sống, làm việc và thực hiện quyền của mình.
Những giới hạn cần thiết do luật quy định góp phần bảo vệ trật tự, kỷ cương, ngăn chặn việc lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để gây rối, phá hoại sự bình yên của đất nước. Hành vi lợi dụng quyền để vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh. Tôn trọng pháp luật là trách nhiệm của cả người thực hiện quyền lẫn cơ quan thực thi quyền lực.
Kiểm soát quyền lực là yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 đặt nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; phát huy giám sát của Nhân dân. Quyền lực được giao phải gắn với trách nhiệm giải trình và chế tài tương ứng. Kiểm soát quyền lực giúp ngăn ngừa lạm quyền, bảo vệ người dân, giữ sự liêm chính của bộ máy.
Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật, từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Năng lực quản lý phải được nâng cao để mở rộng không gian sáng tạo, xử lý đúng rủi ro phát sinh. Pháp luật minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận giúp người dân biết mình được làm gì, cơ quan công quyền có trách nhiệm gì và tìm đến đâu khi cần bảo vệ quyền.
Thước đo cuối cùng nằm ở việc thực thi. Quyền hiến định cần quy trình thuận tiện, cán bộ có năng lực, cơ chế khắc phục sai sót và xử lý trách nhiệm. Khả năng yêu cầu giải thích, khiếu nại hoặc khởi kiện theo pháp luật trước quyết định ảnh hưởng đến mình tạo thêm bảo đảm cho quyền tự do. Bản lĩnh lãnh đạo của Đảng thể hiện ở việc kiên trì xây dựng các bảo đảm ấy, gắn đổi mới thể chế với kỷ luật công vụ và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.


Tự do có điểm tựa khi con người có thể tìm đến công lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Khả năng tiếp cận phụ thuộc vào thủ tục rõ ràng, sự hỗ trợ pháp lý, chất lượng giải quyết và hiệu lực thi hành phán quyết. Những yếu tố ấy quyết định liệu quyền được ghi nhận có thể được người dân thực hiện đến cùng hay không.
Câu chuyện của gia đình ông Phạm Hữu Nam, được Báo Công lý phản ánh ngày 14/9/2026, cho thấy ý nghĩa ấy. Hơn 12 năm, gia đình tìm cách làm rõ hai tên gọi Nguyễn Thị Trái và Nguyễn Thị Ngô của người bà đã khuất, được ghi khác nhau trong hồ sơ hai liệt sĩ Phạm Ngô và Phạm Văn Hữu. Sự khác biệt về tên gọi trở thành vướng mắc trong quá trình hoàn thiện hồ sơ người có công.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội hỗ trợ ông Nam hoàn thiện đơn, rà soát, sắp xếp tài liệu, chứng cứ. Sau khi xem xét hồ sơ và diễn biến tại phiên họp giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội xác định cụ Nguyễn Thị Trái và cụ Nguyễn Thị Ngô là cùng một người, là mẹ đẻ của hai liệt sĩ. Quyết định của Tòa án đã tạo ra căn cứ pháp lý vững chắc để cơ quan chức năng thống nhất hồ sơ, từ đó thực hiện chính sách tri ân.
Niềm vui của gia đình cũng đặt ra trách nhiệm về sự tận tâm của cơ quan công quyền. Câu chuyện này không chỉ là một vụ việc dân sự đơn thuần, nó mang một thông điệp về bản chất của Nhà nước. Công lý không phải là vị thần bịt mắt lạnh lùng, mà là sức mạnh của nhà nước luôn đồng hành và tháo gỡ vướng mắc cho Nhân dân.
Sự công khai, minh bạch của hơn 2 triệu bản án trên Cổng thông tin của Tòa án nhân dân tối cao tính đến hết tháng 8 năm 2026 chính là nỗ lực biến công lý thành điều người dân có thể sờ thấy, tin tưởng và giám sát.


Ở vùng biên giới Lào Cai, ngày 5/9/2026, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Khương được khánh thành, đón năm học mới với quy mô 28 lớp, 980 học sinh. Ngôi trường được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện để học sinh học tập, sinh hoạt tập trung, giảm những trở ngại về khoảng cách trên hành trình đến lớp. Chủ trương chăm lo giáo dục vùng biên đã thành hình trong một công trình phục vụ trực tiếp con em đồng bào.
Với những đứa trẻ lớn lên nơi biên cương, cơ hội học tập hôm nay mở rộng khả năng lựa chọn ngày mai. Tri thức giúp các em hiểu biết hơn, phát triển năng lực, chuẩn bị cho một nghề nghiệp và tự tin bước vào đời. Ý nghĩa sâu xa của việc đầu tư ấy là từng bước thu hẹp sự chênh lệch về cơ hội do nơi sinh sống, hoàn cảnh gia đình; để ước mơ của trẻ em có thêm điểm tựa vươn xa. Từ sự chăm lo của Đảng, Nhà nước, quyền học tập được bồi đắp bằng những điều kiện cụ thể.
Tinh thần mở đường cho con người phát triển cũng thể hiện trong Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Việc đặt người dân, doanh nghiệp ở vị trí trung tâm, coi trọng vai trò nhà khoa học, chủ trương mở cơ chế thử nghiệm và nhìn nhận những rủi ro, độ trễ của nghiên cứu cho thấy tư duy trân trọng sáng tạo. Đảng lựa chọn khơi dậy tiềm năng trí tuệ, khuyến khích tìm tòi, tạo thêm không gian cho những cách nghĩ, cách làm mới đóng góp vào sự phát triển đất nước.
Một ý tưởng mới thường bắt đầu từ câu hỏi chưa có lời giải, đi qua nhiều lần thử nghiệm mới tìm được hướng đi. Sự thấu hiểu đặc điểm ấy của lao động sáng tạo mang ý nghĩa động viên sâu sắc đối với người làm khoa học. Bởi như thế, con người mới có thêm niềm tin để theo đuổi công việc, phát huy sở trường và cống hiến. Tự do sáng tạo, nhìn từ đó, gắn liền với cơ hội đưa trí tuệ của mỗi người vào sự tiến bộ chung.
Tiếp nối tinh thần giải phóng sức sản xuất của công cuộc đổi mới, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định mạnh mẽ chủ trương bảo vệ tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng; khuyến khích khởi nghiệp, làm giàu hợp pháp. Trong định hướng ấy, khát vọng vươn lên của người dân được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển. Người có vốn, có nghề, có sáng kiến được cổ vũ đầu tư, tổ chức sản xuất, tạo việc làm và xây dựng tương lai bằng chính năng lực của mình.
Chủ trương ấy được cụ thể hóa bằng những quyết định thiết thực. Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026; đồng thời quy định không áp dụng hồi tố pháp luật để xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Những thay đổi ấy có ý nghĩa với cả người đang gây dựng cơ sở kinh doanh nhỏ, dành dụm từng đồng vốn và tính toán cho một kế hoạch lâu dài.
Sức sống của hoạt động kinh doanh đã có thêm những biểu hiện cụ thể. Theo thông tin Bộ Tài chính công bố, bốn tháng đầu năm 2026, cả nước ước có gần 123.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 36,7% so với cùng kỳ. Con số ấy cho thấy sự sôi động của quá trình gia nhập và tái gia nhập thị trường. Nhìn từ quyền tự do phát triển, mỗi cơ sở kinh doanh được gây dựng còn mở thêm khả năng tạo việc làm, phát huy tay nghề, biến ý tưởng thành giá trị và gắn sự tiến bộ của bản thân với lợi ích cộng đồng.
Cơ hội làm chủ cuộc sống còn được mở rộng từ những cải cách gần gũi trong sinh hoạt hằng ngày. Có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, Nghị định 301/2026/NĐ-CP bổ sung việc cấp thẻ căn cước cho trẻ dưới 6 tuổi vào quy trình liên thông điện tử khi người đại diện hợp pháp có đề nghị; kết quả được trả ngay sau khi từng thủ tục hoàn thành. Việc kết nối các thủ tục gắn với những giấy tờ đầu đời của trẻ hướng tới giảm đi lại, chờ đợi cho gia đình, giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn.
Ý nghĩa của chuyển đổi số vì thế có thể cảm nhận từ những điều rất đời thường: bớt một lần đi lại, tiết kiệm một buổi chờ đợi, chủ động hơn khi giải quyết công việc. Qua những thay đổi cụ thể, tư tưởng lấy người dân làm trung tâm trở nên gần gũi; sự phục vụ của Nhà nước góp phần mở rộng khoảng chủ động của mỗi người trong cuộc sống.
Từ lá phiếu của cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 đến những cơ hội học tập, sáng tạo, lập nghiệp hôm nay là hành trình bồi đắp địa vị làm chủ của Nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hành trình ấy tiếp tục bằng những chủ trương và việc làm khơi dậy sức dân, trân trọng trí tuệ, khuyến khích khát vọng vươn lên. Độc lập tạo nền tảng để dân tộc tự quyết; tự do mở không gian để mỗi người phát triển và tự kiến tạo cuộc đời. Khi người dân có thêm khả năng biến những lựa chọn chính đáng thành hiện thực, hạnh phúc được vun đắp từ chính sự trưởng thành, thành quả lao động và niềm tin vào tương lai.
Nhóm PV