Kỳ 1: Độc lập - Bản lĩnh lãnh đạo của Đảng
Tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” hàm chứa những giá trị cốt lõi, mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Trong mối quan hệ ấy, độc lập dân tộc là tiền đề để Nhân dân làm chủ vận mệnh và xây dựng cuộc sống hạnh phúc. Giành được độc lập là bước ngoặt lịch sử; giữ vững nền độc lập trong thế giới nhiều biến động hôm nay tiếp tục đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng.
Khi đất nước mất quyền tự quyết, người dân phải gánh chịu thân phận của một dân tộc bị áp bức; khát vọng tự do, hạnh phúc bị ngăn trở ngay từ điều kiện căn bản nhất. Bởi vậy, khát vọng độc lập trở thành lẽ sống, được các thế hệ người Việt Nam theo đuổi bằng ý chí bền bỉ và cả sự hy sinh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khát vọng ấy đã trở thành hiện thực, được bảo vệ qua những cuộc kháng chiến và tiếp tục được bồi đắp bằng công cuộc xây dựng đất nước.
Ngày nay, bảo vệ độc lập đòi hỏi giữ vững chủ quyền, quyền quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia, đồng thời tạo dựng thực lực để thực hiện những lựa chọn ấy. Từ hành trình giành chính quyền đến yêu cầu tự chủ chiến lược, có một mạch xuyên suốt: dựa vào Nhân dân, phát huy sức mạnh dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại để giữ nước và phát triển đất nước.


Xuyên suốt hàng nghìn năm lịch sử, khát vọng độc lập luôn cháy bỏng trong tâm thức người Việt. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lòng yêu nước và tinh thần bất khuất đã được hun đúc trong nhiều phong trào đấu tranh. Từ phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế đến những cuộc vận động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, mỗi khuynh hướng có cách lựa chọn con đường cứu nước riêng, nhưng đều bắt nguồn từ nỗi đau mất nước và mong muốn tìm lối đi cho dân tộc.
Những phong trào ấy đã để lại tấm gương hy sinh, khí phách và nhiều bài học lịch sử, song chưa giải quyết được nhiệm vụ giành độc lập. Sự đàn áp của thực dân cùng những hạn chế về đường lối, phương pháp và tổ chức đặt phong trào yêu nước trước một yêu cầu bức thiết: phải tìm được con đường có khả năng tập hợp, phát huy sức mạnh toàn dân, phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 đáp ứng yêu cầu lịch sử ấy. Từ quá trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Đảng ra đời, xác lập đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo. Lòng yêu nước được quy tụ trong một phong trào có mục tiêu, tổ chức và phương pháp đấu tranh, từng bước hình thành lực lượng đủ sức giành chính quyền.
Mười lăm năm từ khi thành lập đến Cách mạng Tháng Tám là quá trình Đảng cùng Nhân dân trải qua những thử thách khốc liệt. Tại Tân Trào, trong hai ngày 16 và 17/8/1945, Quốc dân Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thể hiện ý chí thống nhất của các tầng lớp nhân dân. Chỉ trong khoảng hai tuần, một Đảng với khoảng 5.000 đảng viên đã lãnh đạo hơn 20 triệu đồng bào đứng lên giành chính quyền trên cả nước.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định quyền dân tộc tự quyết và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người dân một nước thuộc địa trở thành công dân của quốc gia độc lập. Từ đây, khát vọng làm chủ đất nước có hình hài của một nhà nước do Nhân dân xây dựng và bảo vệ.
.png)

Nền độc lập non trẻ lập tức đứng trước những thử thách sống còn. Ngân khố cạn kiệt, hậu quả nạn đói năm Ất Dậu cướp đi sinh mạng hơn hai triệu người còn hết sức nặng nề, nạn mù chữ phổ biến. Cùng lúc, sự hiện diện của quân đội nước ngoài và hoạt động chống phá của các thế lực phản động đặt chính quyền cách mạng trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Độc lập đã được tuyên bố, nhưng giữ được chính quyền, bảo vệ được thành quả cách mạng là cuộc đấu tranh đầy gian nan.
Trong tình thế ấy, bản lĩnh của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện ở sự kiên định về mục tiêu và linh hoạt trong sách lược. Chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm là những nhiệm vụ cấp bách gắn bó với nhau. Chăm lo miếng ăn, mở mang dân trí giúp củng cố sức dân và niềm tin vào chế độ mới. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 tạo nền tảng dân chủ, pháp lý cho việc xây dựng nhà nước, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường khối đoàn kết để bảo vệ nền độc lập vừa giành được.
Bài học sâu sắc của những năm tháng ấy là muốn giữ vững chính quyền phải có chỗ dựa bền chắc trong lòng dân. Khi người dân nhận ra đất nước này thuộc về mình, họ sẵn sàng góp sức để bảo vệ. Tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” được tiếp nối bằng những đoàn dân công mở đường, tải lương ra tiền tuyến; người nông dân bền bỉ giữ vững hậu phương; những lớp thanh niên lên đường với niềm tin vào ngày đất nước thống nhất.
Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng đã tổ chức, phát huy sức mạnh ấy, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao; gắn tiền tuyến với hậu phương, sức mạnh dân tộc với sự ủng hộ quốc tế. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được ghi nhận trong những văn kiện của Hội nghị Genève. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới sau đó tiếp tục khẳng định ý chí bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Mỗi thắng lợi đều gắn với sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết và sự hy sinh của biết bao thế hệ. Càng trân trọng thành quả ấy, càng phải thấu hiểu cái giá của chiến tranh để nỗ lực gìn giữ hòa bình. Bài học dựa vào dân, chăm lo sức dân, củng cố lòng dân vẫn nguyên giá trị khi đất nước bước vào những thử thách mới.
.png)

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xung đột và những sức ép đan xen, bảo vệ độc lập có những yêu cầu ngày càng rộng. Cùng với bảo vệ biên giới, vùng trời, vùng biển là giữ quyền tự quyết trong các lựa chọn phát triển và quan hệ quốc tế. Sự phụ thuộc quá mức vào một nguồn cung, một thị trường hay một đối tác có thể thu hẹp khả năng lựa chọn của quốc gia khi tình hình thay đổi.
Tự chủ chiến lược, vì thế, đòi hỏi khả năng nhận diện lợi ích lâu dài, dự báo tình hình và chủ động chuẩn bị phương án ứng phó. Việt Nam mở rộng hợp tác, đa dạng hóa quan hệ, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để tăng thực lực bên trong. Hội nhập càng sâu, năng lực tự chủ càng phải được củng cố, để những quyết định hệ trọng luôn xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Chính sách quốc phòng “bốn không” thể hiện rõ lựa chọn ấy: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách này làm rõ tính chất hòa bình, tự vệ của quốc phòng Việt Nam, đồng thời khẳng định quyền chủ động quyết định cách thức bảo vệ Tổ quốc.
Giá trị của “bốn không” cần được nhìn từ điều kiện và lợi ích của Việt Nam. Mọi quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình phải xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc. Không để lãnh thổ mình bị sử dụng để chống nước khác giúp hạn chế nguy cơ bị cuốn vào đối đầu. Giữ quyền chủ động trong quan hệ quốc phòng cũng tạo điều kiện hợp tác với nhiều đối tác, xây dựng lòng tin và bảo vệ môi trường hòa bình. Sức thuyết phục của lựa chọn ấy nằm ở sự nhất quán giữa lời nói và hành động, giữa thiện chí hợp tác với quyết tâm bảo vệ chủ quyền.
Để thực hiện chính sách ấy, Việt Nam phải tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc và khả năng xử lý tình huống. Chủ động hợp tác quốc phòng, học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ phù hợp cũng góp phần tăng năng lực tự vệ. Ý chí hòa bình cần được bảo đảm bằng thực lực, sự chuẩn bị và thế trận lòng dân vững chắc.
Bản lĩnh tự chủ còn được thể hiện trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và tinh thần ngoại giao “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển. Sự vững vàng về nguyên tắc phải đi cùng thực lực và khả năng ứng xử linh hoạt. Kiên định độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia; mềm dẻo trong cách tìm kiếm đồng thuận, xử lý khác biệt và duy trì đối thoại khi tình hình phức tạp đòi hỏi năng lực đánh giá đúng tương quan lợi ích, chọn đúng thời điểm và cách thức hành động.
Trong diễn văn kỷ niệm 81 năm Quốc khánh tối 28/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia. Mạng lưới quan hệ rộng mở, trong đó có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với nhiều đối tác quan trọng, tạo thêm điều kiện huy động nguồn lực, tăng cường hiểu biết và phối hợp giải quyết những vấn đề chung. Đó là quá trình mở rộng quan hệ để củng cố vị thế, tăng khả năng bảo vệ lợi ích chính đáng của đất nước bằng biện pháp hòa bình.
.png)

Sức mạnh bảo vệ độc lập gắn chặt với sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh nhưng vẫn dễ bị tác động nếu phụ thuộc quá mức vào công nghệ, nguyên liệu hay những khâu then chốt do bên ngoài chi phối. Đặt vấn đề tự chủ kinh tế là nhận diện những điểm dễ tổn thương ấy để từng bước khắc phục, bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế và đời sống xã hội.
Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra những định hướng quan trọng để tăng nội lực trong quá trình hợp tác. Muốn tiếp nhận hiệu quả vốn, tri thức, công nghệ từ bên ngoài, đất nước cần có thể chế phù hợp, doanh nghiệp đủ năng lực và đội ngũ nhân lực có khả năng học hỏi, sáng tạo. Ngoại lực được khai thác tốt khi góp phần làm mạnh thêm năng lực tự phát triển.
Những kết quả gần đây cho thấy tiềm lực đất nước tiếp tục được nâng lên. Theo số liệu Cục Thống kê công bố đầu năm 2026, GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt khoảng 514 tỷ USD; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%. Năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44 trong 139 nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của WIPO; năm 2026 đứng thứ 43. Báo cáo chuyên đề về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV ghi nhận GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%.
Những con số ấy cho thấy dư địa để tăng cường thực lực, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng. Khả năng tự chủ còn phải được bồi đắp bằng nghiên cứu, làm chủ công nghệ, năng lực của doanh nghiệp trong nước và sự tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Nâng năng suất, tăng năng lực sáng tạo, khắc phục những điểm dễ bị gián đoạn trong sản xuất và cung ứng là những công việc thiết thực để mở rộng khả năng lựa chọn của quốc gia.
Sự tự chủ còn thể hiện trong năng lực quản trị rủi ro. Trước diễn biến phức tạp của xung đột tại Trung Đông, ngày 4/3/2026, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng, tăng cường điều phối giữa các bộ, ngành. Theo dõi sát biến động, đa dạng hóa nguồn cung và chủ động phương án đáp ứng nhu cầu trong nước là những công việc gắn trực tiếp với sản xuất, việc làm, sinh hoạt của Nhân dân. Từ một vấn đề tưởng như xa xôi trên thị trường quốc tế, có thể thấy yêu cầu tự chủ đi vào từng quyết định điều hành trong nước.
Để tăng sức chống chịu lâu dài, những giải pháp ứng phó trước mắt phải gắn với đầu tư cho năng lực sản xuất, hạ tầng, dự trữ và công nghệ. Bảo vệ độc lập trong điều kiện mới vì thế cũng là trách nhiệm xây dựng một nền kinh tế có khả năng đứng vững, thích ứng và phục hồi. Thực lực càng được củng cố, nền tảng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ càng vững chắc.
.png)
Độc lập mang tầm vóc quốc gia, nhưng giá trị và đích đến của nó hiện diện trong cuộc sống bình dị hằng ngày. Đó là trẻ em được đến trường trong hòa bình; người nông dân gieo hạt trên mảnh đất quê hương; những con tàu cá vươn khơi dưới lá cờ Tổ quốc; doanh nhân, nhà khoa học được lao động, sáng tạo, góp sức xây dựng đất nước. Sự bình yên ấy có nền tảng từ một quốc gia có chủ quyền và nỗ lực bảo vệ môi trường sống an toàn cho người dân.
Giá trị che chở của Tổ quốc còn được cảm nhận khi công dân ở xa quê hương. Trước những xung đột, thiên tai hay biến cố ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam chủ động nắm tình hình, duy trì liên lạc, phối hợp với chính quyền sở tại để hỗ trợ, bảo hộ và sơ tán công dân khi cần thiết. Công việc thường xuyên ấy thể hiện trách nhiệm của Nhà nước với đồng bào, để người gặp hoạn nạn nơi đất khách có thêm điểm tựa.
Công tác bảo hộ công dân cho thấy mối liên hệ thiết thực giữa vị thế quốc gia, năng lực đối ngoại và quyền lợi của mỗi người. Một nền độc lập được củng cố bằng uy tín, quan hệ hợp tác và bộ máy có trách nhiệm sẽ tạo thêm điều kiện để Nhà nước bảo vệ công dân. Trong hoàn cảnh bất trắc, một cuộc gọi được hồi đáp, một sự hỗ trợ kịp thời có thể tiếp thêm niềm tin và hy vọng. Tình cảm với Tổ quốc vì thế càng sâu nặng, khi sự chở che được cảm nhận bằng những hành động cụ thể.
Trước thiên tai, năng lực tổ chức của Đảng, Nhà nước cùng sức mạnh cộng đồng cũng là điểm tựa để người dân khắc phục mất mát. “Chiến dịch Quang Trung” đã hoàn thành xây dựng lại 1.597 căn nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi tại miền Trung trước ngày 15/1/2026. Việc huy động lực lượng, điều phối nguồn lực và tháo gỡ vướng mắc giúp những gia đình bị thiên tai sớm có chỗ ở, ổn định lại cuộc sống. Qua đó có thể thấy ý nghĩa thiết thực của một bộ máy biết hành động vì dân.

Những việc làm ấy góp phần củng cố thế trận lòng dân trong thời bình. Khi người dân được lắng nghe, được bảo vệ quyền lợi và nhận sự hỗ trợ đúng lúc, niềm tin với Đảng, Nhà nước có thêm cơ sở bền chắc. Chăm lo sức dân, phát huy quyền làm chủ, khuyến khích người dân tham gia xây dựng đất nước cũng chính là bồi đắp nguồn sức mạnh để bảo vệ nền độc lập.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa liêm chính, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân là yêu cầu gắn bó với nhiệm vụ giữ nước. Năng lực dự báo, hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện cần được kiểm chứng bằng khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và cuộc sống của Nhân dân.
Độc lập là khát vọng ngàn đời, là thành quả được các thế hệ người Việt Nam giành lấy và bảo vệ bằng máu xương, trí tuệ và ý chí bền bỉ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc đã đi từ thân phận mất nước đến làm chủ đất nước, từ những thử thách sống còn đến vị thế và khả năng phát triển hôm nay. Trách nhiệm của hiện tại là giữ vững quyền tự quyết ấy bằng thực lực quốc gia, bản lĩnh tự chủ chiến lược và sự gắn bó bền chặt giữa Đảng với Nhân dân. Trên nền tảng độc lập được bảo vệ vững chắc, quyền làm chủ và khát vọng hạnh phúc của mỗi người mới có điều kiện được thực hiện đầy đủ hơn.
Nhóm PV