congly.vn

Nghiệp vụ

Bài cuối: Án lệ sở hữu trí tuệ trong thời đại số

Nhóm PV

Ngày 24/9/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua 3 án lệ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Trong bối cảnh công nghệ làm thay đổi nhanh phương thức khai thác và xâm phạm tài sản trí tuệ, việc khai thác dữ liệu bản án có hệ thống, nâng cao chất lượng lập luận và nghiên cứu phát triển án lệ góp phần nhận diện những vấn đề pháp lý cần được giải quyết thống nhất.

Từ bản án có hiệu lực đến án lệ

Theo Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29/5/2026, 8 án lệ mới, từ Án lệ số 83/2026/AL đến Án lệ số 90/2026/AL, được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử từ ngày 1/7/2026.

Ngày 24/9/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục thông qua 3 án lệ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, gồm: án lệ về căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy tính; án lệ về nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả trong trường hợp có chứng cứ ngược lại trong vụ án tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ; và án lệ về việc định tội danh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Trước đó, tại hội thảo do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức ngày 11 và 12/6/2026 tại thành phố Cần Thơ, 42 dự thảo án lệ được đưa ra lấy ý kiến. Bên cạnh đó, 8 bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về sở hữu trí tuệ được nghiên cứu riêng để xem xét khả năng phát triển thành án lệ.

hoi-thao.jpg
Hội thảo lấy ý kiến đối với 42 dự thảo án lệ do TANDTC tổ chức tại TP. Cần Thơ tháng 6/2026

Những hoạt động này cho thấy việc phát triển án lệ không chỉ bắt đầu từ một bản án có kết quả đáng chú ý. Quá trình đó đòi hỏi nhận diện đúng vấn đề pháp lý, xây dựng lập luận có khả năng khái quát, lấy ý kiến, xem xét và thông qua theo trình tự quy định.

Một bản án có hiệu lực trước hết giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên trong vụ việc cụ thể. Án lệ không phải toàn bộ nội dung của bản án được sao chép để áp dụng cho vụ việc sau. Giá trị cốt lõi nằm ở lập luận và giải pháp pháp lý được rút ra từ một tình huống cụ thể, có khả năng định hướng giải quyết những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự.

Vì vậy, vụ án có giá trị tranh chấp lớn, liên quan đến doanh nghiệp nổi tiếng hoặc thu hút sự chú ý của dư luận chưa đương nhiên là nguồn án lệ phù hợp. Ngược lại, vụ việc có giá trị kinh tế không lớn nhưng giải quyết được câu hỏi pháp lý thường xuyên phát sinh, có lập luận chặt chẽ và khả năng khái quát vẫn có thể mang giá trị án lệ.

Đối với sở hữu trí tuệ, việc lựa chọn bản án nguồn cần tính đến đặc điểm kỹ thuật của đối tượng tranh chấp. Một vụ án về phần mềm có thể đặt ra vấn đề xác định phạm vi sử dụng, phiên bản chương trình và căn cứ tính thiệt hại. Tranh chấp trên sàn thương mại điện tử có thể liên quan đến việc xác định chủ thể kiểm soát gian hàng, nguồn gốc hàng hóa và dữ liệu giao dịch.

Theo Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng, (Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh), yêu cầu trước hết đối với thẩm phán khi giải quyết các vụ án sở hữu trí tuệ là nắm vững quy định pháp luật và xác định đúng những vấn đề cần giải quyết trong từng vụ án.

Đối với tranh chấp liên quan đến đối tượng sở hữu trí tuệ trên môi trường số, ngoài kiến thức pháp luật, người tiến hành tố tụng cần tìm hiểu đặc điểm kỹ thuật, phương thức khai thác, sử dụng và những yếu tố liên quan đến hành vi bị cho là xâm phạm. Những vấn đề vượt quá phạm vi chuyên môn cần được làm rõ thông qua giám định, ý kiến của cơ quan chuyên môn và các nguồn chứng cứ hợp pháp khác.

Về chất lượng lập luận trong bản án, Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng cho rằng điều quan trọng là làm rõ căn cứ chấp nhận hoặc không chấp nhận từng yêu cầu của đương sự. Với vấn đề có tính kỹ thuật, bản án cần thể hiện Hội đồng xét xử đã xem xét những tài liệu, chứng cứ nào, giá trị chứng minh của từng tài liệu ra sao và vì sao có căn cứ đưa ra kết luận.

Trường hợp tài liệu hoặc ý kiến chuyên môn có sự khác biệt, việc nhận định cần phân tích, đánh giá trong mối liên hệ với các chứng cứ khác của vụ án. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng khi những dữ liệu kỹ thuật ngày càng giữ vai trò lớn trong việc xác định hành vi xâm phạm, phạm vi quyền và thiệt hại.

Theo Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng, cần quan tâm hơn đến việc tổng kết thực tiễn xét xử đối với những tranh chấp sở hữu trí tuệ có vấn đề pháp lý phức tạp. Việc nghiên cứu bản án, quyết định đã có hiệu lực, nhất là những vụ án có quan điểm giải quyết khác nhau hoặc phát sinh vấn đề chưa được hướng dẫn cụ thể, có thể giúp nhận diện nội dung cần tổng kết, hướng dẫn để bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất.

Đối với những bản án đáp ứng điều kiện, có lập luận và cách giải quyết vấn đề pháp lý mang tính điển hình, cơ quan có thẩm quyền có thể nghiên cứu, đề xuất phát triển thành án lệ theo quy định.

Dữ liệu bản án lớn, cần tìm đúng vấn đề pháp lý

Tại thời điểm tra cứu ngày 1/8/2026, Cổng công bố bản án, quyết định của Tòa án hiển thị 2.084.401 bản án, quyết định đã được công bố. Đây là nguồn tư liệu lớn phục vụ nghiên cứu, tổng kết thực tiễn xét xử và phát triển án lệ.

Tuy nhiên, số lượng bản án lớn không tự động đồng nghĩa với khả năng phát hiện vấn đề pháp lý nhanh và chính xác. Nếu việc tra cứu chủ yếu dựa vào số bản án, tên đương sự, ngày xét xử hoặc cấp Tòa án, người nghiên cứu vẫn có thể mất nhiều thời gian để tìm những phán quyết cùng giải quyết một vấn đề về quyền tác giả, nhãn hiệu, giám định, nghĩa vụ chứng minh hay xác định thiệt hại.

Với sở hữu trí tuệ, dữ liệu bản án có thể được tổ chức sâu hơn theo đối tượng quyền, loại quan hệ tranh chấp, câu hỏi pháp lý cốt lõi, chứng cứ có tính quyết định, kết luận giám định, phương pháp xác định thiệt hại, biện pháp bảo vệ được áp dụng và kết quả xét xử.

Khi nghiên cứu tranh chấp phần mềm, người dùng có thể cần tìm những bản án bàn về việc xác định phạm vi chương trình được bảo hộ, chứng minh hành vi cài đặt trái phép, đánh giá dữ liệu kỹ thuật hoặc tính toán thiệt hại. Với tranh chấp trên môi trường số, câu hỏi có thể là Tòa án đánh giá ảnh chụp màn hình như thế nào, điều kiện nào để dữ liệu điện tử có giá trị chứng minh, hoặc căn cứ nào được sử dụng để xác định lợi nhuận phát sinh từ hành vi xâm phạm.

Nếu bản án được phân loại theo câu hỏi pháp lý và loại chứng cứ, việc đối chiếu những phán quyết cùng loại sẽ thuận lợi hơn. Qua đó, người nghiên cứu có thể nhận diện những vấn đề đã được giải quyết ổn định, những tình huống còn có cách tiếp cận khác nhau và những lĩnh vực cần tiếp tục tổng kết thực tiễn.

Đây cũng là hướng ứng dụng dữ liệu tư pháp trong chuyển đổi số: không dừng ở việc công bố văn bản điện tử, mà từng bước làm cho dữ liệu có cấu trúc, có thể tìm kiếm theo nội dung pháp lý và hỗ trợ quá trình nghiên cứu.

Tuy nhiên, việc phân loại hoặc gợi ý kết quả bằng công cụ tự động, nếu được triển khai, chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ. Kết luận về sự tương đồng giữa các vụ án và khả năng phát triển thành án lệ vẫn cần được kiểm tra bằng hồ sơ, lập luận và quy định pháp luật có liên quan.

Thẩm phán Hoàng Anh Dũng - Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh,
Thẩm phán Hoàng Anh Dũng - Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng cho rằng có thể khai thác tiện ích của công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tra cứu văn bản pháp luật, tìm kiếm bản án, án lệ, hệ thống hóa tài liệu và hỗ trợ nghiên cứu hồ sơ. Việc ứng dụng cần phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, đồng thời bảo đảm tính chính xác của thông tin, an toàn và bảo mật dữ liệu, đặc biệt là tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.

Dù vậy, công nghệ không thay thế trách nhiệm của người tiến hành tố tụng. Những thông tin, kết quả phân tích do công nghệ hoặc trí tuệ nhân tạo cung cấp phải được kiểm tra, đối chiếu với nguồn tài liệu có giá trị pháp lý và chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Thẩm phán phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ của mình; việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền quyết định độc lập của Hội đồng xét xử.

Yêu cầu này càng có ý nghĩa khi dữ liệu đầu vào không phải lúc nào cũng đầy đủ hoặc chính xác. Tên gọi đối tượng quyền, tình trạng hiệu lực của văn bằng, loại chứng cứ, kết quả xét xử và tình trạng thi hành cần được ghi nhận chính xác. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu hoặc sai, công cụ tra cứu dù hiện đại cũng có thể dẫn người dùng đến những phán quyết không thực sự tương đồng.

Một vấn đề khác là bảo đảm án lệ thích ứng với sự thay đổi của công nghệ. Hành vi xâm phạm có thể diễn ra trên website, sàn thương mại điện tử, mạng xã hội hoặc qua những phương thức phân phối mới. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra nhiều câu hỏi về dữ liệu, phần mềm, nội dung số và phạm vi bảo hộ quyền.

Nếu giải pháp pháp lý phụ thuộc quá nhiều vào tên một nền tảng, một định dạng dữ liệu hoặc một công nghệ cụ thể, giá trị hướng dẫn có thể nhanh chóng suy giảm. Nhưng nếu lập luận được diễn đạt quá chung, thẩm phán lại khó xác định vụ việc nào thực sự có tình huống pháp lý tương tự.

Án lệ sở hữu trí tuệ vì vậy cần cân bằng giữa tính cụ thể và khả năng khái quát. Với chứng cứ điện tử, vấn đề cốt lõi không chỉ là tài liệu được tạo ra bằng ứng dụng nào, mà còn là nguồn tạo lập, thời điểm, tính toàn vẹn và khả năng kiểm chứng. Với gian hàng trực tuyến, việc xem xét cần tập trung vào hành vi thực tế, chủ thể kiểm soát hoạt động chào bán và những căn cứ pháp lý liên quan.

Từ chứng cứ điện tử đến thi hành án và phát triển án lệ, ba khâu có mối liên hệ chặt chẽ. Dữ liệu được thu thập, đánh giá đúng giúp Tòa án xác định chính xác hành vi, thiệt hại và trách nhiệm. Với doanh nghiệp, khả năng dự báo cách áp dụng pháp luật giúp nhận diện rủi ro, chuẩn bị chứng cứ và lựa chọn phương án xử lý tranh chấp phù hợp. Với luật sư, dữ liệu bản án giúp xác định trọng tâm tranh tụng.

Công nghệ và dữ liệu không tự tạo ra công lý. Giá trị chỉ thực sự phát huy khi phục vụ đúng mục đích, được kiểm chứng và đặt trong khuôn khổ pháp luật. Đối với bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, mục tiêu cuối cùng không chỉ là có bản án đúng trong một vụ việc, mà còn là bảo đảm phán quyết có thể đi vào cuộc sống và những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự được giải quyết nhất quán, bằng lập luận rõ ràng, có thể kiểm chứng và có khả năng dự báo.

Nhóm PV