Bài 1: Có hành vi xâm phạm, vì sao vẫn khó được bồi thường?
Xác định được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chưa đồng nghĩa với việc chứng minh được thiệt hại. Trong môi trường số, khi dữ liệu giao dịch, doanh thu, lợi nhuận và thông tin kỹ thuật có thể nằm ngoài khả năng tiếp cận của chủ thể quyền, việc thu thập, kiểm chứng chứng cứ và xác định mức bồi thường trở thành thách thức lớn đối với cả các bên tranh chấp và cơ quan xét xử.
Xâm phạm đã rõ, bồi thường vẫn thiếu căn cứ
Hơn 12,6 tỷ đồng là khoản tiền chủ sở hữu phần mềm CREO Element Pro 5.0 từng yêu cầu một doanh nghiệp sử dụng trái phép phải bồi thường. Tuy nhiên, dù hành vi xâm phạm quyền tác giả được xác định, yêu cầu bồi thường này không được Tòa án chấp nhận.
Theo Bản án phúc thẩm số 09/2022/KDTM-PT ngày 21/2/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan thanh tra phát hiện phần mềm CREO Element Pro 5.0 không có giấy phép được sao chép, cài đặt trên một máy tính. Tòa án xác định có hành vi xâm phạm quyền tác giả, buộc doanh nghiệp chấm dứt hành vi và công khai xin lỗi.
Nguyên đơn yêu cầu bồi thường 543.685 USD, tương đương hơn 12,6 tỷ đồng, căn cứ vào giá thương mại của phiên bản phần mềm đầy đủ, gồm toàn bộ mô-đun chức năng. Trong khi đó, phần mềm được phát hiện không phải phiên bản đầy đủ. Nguyên đơn cũng chưa chứng minh được việc sử dụng phần mềm đã tạo ra doanh thu, lợi nhuận cho bị đơn hoặc làm giảm thu nhập, lợi nhuận, cơ hội kinh doanh của mình.
Vì vậy, Tòa án không chấp nhận khoản bồi thường theo yêu cầu. Đề nghị tiêu hủy máy tính cũng không được chấp nhận do thiết bị không phải phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm và phần mềm đã được gỡ bỏ sau khi hành vi bị phát hiện.
Vụ án cho thấy ranh giới quan trọng trong giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ, chứng minh được hành vi xâm phạm không đồng nghĩa với việc đã chứng minh được thiệt hại và mức bồi thường tương ứng. Giá niêm yết của sản phẩm không mặc nhiên là thiệt hại; toàn bộ doanh thu của bên vi phạm cũng không đương nhiên là lợi ích phát sinh từ hành vi xâm phạm.
Đối với phần mềm, việc xác định thiệt hại còn phụ thuộc vào phiên bản, mô-đun chức năng, phạm vi và điều kiện cấp phép, thời hạn sử dụng cũng như mục đích khai thác. Giá chuyển giao quyền sử dụng chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong mối tương quan với đối tượng và phạm vi xâm phạm thực tế.
Loạt bài: Hành trình tư pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật ghi nhận, nhưng để quyền ấy thực sự được bảo vệ cần đi qua nhiều khâu như chứng cứ phải đủ sức thuyết phục, bản án phải rõ ràng và có khả năng thi hành, những lập luận pháp lý có giá trị cần được phát triển thành chuẩn mực xét xử thống nhất. Trong bối cảnh công nghệ số làm thay đổi phương thức tạo lập, khai thác và xâm phạm tài sản trí tuệ, mỗi khâu của hành trình này đều đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động tư pháp.
Từ một vụ tranh chấp phần mềm, loạt bài nhận diện những “điểm nghẽn” trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ điện tử và xác định thiệt hại; từ quá trình thi hành bản án, đặt vấn đề về khả năng theo dõi, kiểm chứng việc thực hiện nghĩa vụ trên môi trường số; từ thực tiễn xét xử, phân tích vai trò của dữ liệu bản án trong phát hiện vấn đề pháp lý và phát triển án lệ.
Đây không chỉ là câu chuyện hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà còn là yêu cầu đưa công nghệ và dữ liệu vào đúng vị trí hỗ trợ phát hiện, chứng minh, thực thi và thống nhất áp dụng pháp luật, nhưng không thay thế trách nhiệm đánh giá độc lập của cơ quan tiến hành tố tụng.
Trực tiếp xét xử vụ tranh chấp liên quan đến phần mềm CREO Elements/Pro 5.0, ông Hoàng Thanh Dũng, Thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng khó khăn không chỉ nằm ở việc xác định có hay không có hành vi xâm phạm, mà còn ở việc làm rõ phạm vi xâm phạm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại, cũng như mức bồi thường tương ứng.

Theo Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng cùng một đối tượng sở hữu trí tuệ có thể tồn tại nhiều phiên bản, hình thức khai thác, phạm vi và điều kiện sử dụng khác nhau. Dữ liệu điện tử lại có thể bị thay đổi, sao chép hoặc xóa bỏ, trong khi thời điểm, chủ thể thực hiện và phạm vi khai thác không phải lúc nào cũng được thể hiện đầy đủ trong tài liệu do các bên cung cấp.
Đối với vụ án phần mềm nêu trên, tài liệu được xem xét tại thời điểm xét xử chưa đủ căn cứ xác định việc cài đặt phần mềm được tổ chức để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty Hồng Anh. Mặt khác, giá phần mềm mà nguyên đơn đưa ra là giá của chương trình đầy đủ các mô-đun, trong khi phạm vi phần mềm được cài đặt, sử dụng trái phép chưa được xác định tương ứng với toàn bộ chương trình.
“Việc không chấp nhận yêu cầu bồi thường tại thời điểm xét xử xuất phát từ kết quả đánh giá chứng cứ về thiệt hại, chứ không phủ nhận hành vi xâm phạm quyền tác giả đã được xác định trong vụ án”, Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng phân tích.
Từ góc độ thực tiễn tư vấn và đại diện cho chủ thể quyền, luật sư Trần Nam Long, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, cho biết pháp luật sở hữu trí tuệ quy định nhiều căn cứ xác định thiệt hại, gồm lợi nhuận mà bên vi phạm thu được, sự giảm sút lợi nhuận của chủ thể quyền hoặc giá chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ tương ứng với tính chất, quy mô hành vi xâm phạm.

Theo luật sư, trong trường hợp không thể tính toán chính xác thiệt hại, pháp luật còn có cơ chế cho phép chủ thể quyền yêu cầu Tòa án ấn định mức bồi thường theo quy định tại Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ. Chủ thể quyền cũng có thể yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư theo quy định.
Tuy nhiên, việc pháp luật quy định nhiều phương pháp tính toán không có nghĩa mọi phương pháp đều có thể áp dụng cho mọi vụ việc. Luật sư Trần Nam Long cho rằng trên thực tế, việc chứng minh lợi nhuận của bên xâm phạm thường rất khó khăn. Vì vậy, chủ thể quyền cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các căn cứ pháp luật để lựa chọn phương pháp chứng minh phù hợp với đặc điểm vụ việc.
Điều quan trọng là yêu cầu bồi thường phải có cơ sở, phản ánh được mối liên hệ giữa hành vi xâm phạm với thiệt hại hoặc lợi ích cần xác định, thay vì chỉ dựa vào giá trị thương mại chung của đối tượng được bảo hộ.
Dữ liệu số nằm ở đâu, chứng cứ phải được tiếp cận đến đó
Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, năm 2025, Tòa án các cấp thụ lý 67 vụ án hình sự về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, 10 vụ việc dân sự và 100 vụ án kinh doanh, thương mại liên quan đến lĩnh vực này, tổng cộng 177 vụ, việc. Trong đó, nhóm kinh doanh, thương mại chiếm khoảng 56,5%.

Trong nhiều tranh chấp, chủ thể quyền không nắm giữ toàn bộ dữ liệu cần thiết để chứng minh. Doanh nghiệp bị kiện có thể quản lý sổ sách về sản lượng, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, lịch sử phiên bản phần mềm, quy trình công nghệ, hợp đồng phân phối hoặc dữ liệu khách hàng. Nền tảng thương mại điện tử nắm thông tin tài khoản và giao dịch; tổ chức thanh toán có dữ liệu dòng tiền; doanh nghiệp logistics lưu thông tin vận chuyển.
Khi những dữ liệu này được tạo lập và lưu trữ trên các hệ thống khác nhau, việc thu thập chứng cứ không đơn giản là tìm một tài liệu rồi đưa vào hồ sơ. Cần xác định dữ liệu được tạo ra từ đâu, do ai quản lý, tồn tại trong khoảng thời gian nào, được lưu giữ ra sao và có thể kiểm chứng tính toàn vẹn bằng cách nào.
Pháp luật tố tụng dân sự đã quy định cơ chế để đương sự yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý cung cấp tài liệu, chứng cứ; trong trường hợp không thể tự thu thập dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết, đương sự có thể đề nghị Tòa án hỗ trợ theo thẩm quyền.
Theo Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng, việc thu thập chứng cứ cần được chú trọng ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tòa án cần xác định những vấn đề phải chứng minh, giải thích để đương sự thực hiện quyền cung cấp tài liệu về quá trình khai thác, sử dụng, giao dịch chuyển giao quyền, giá trị thương mại và những thiệt hại được cho là phát sinh từ hành vi xâm phạm. Khi cần thiết, các bên có thể thực hiện quyền yêu cầu giám định, định giá; Tòa án xem xét áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tố tụng.
Tuy nhiên, yêu cầu cung cấp chứng cứ không đồng nghĩa với quyền tiếp cận không giới hạn dữ liệu của đối phương. Người yêu cầu phải xác định vấn đề cần chứng minh, loại tài liệu liên quan, chủ thể quản lý và lý do không thể tự thu thập. Đây là ranh giới cần thiết để hoạt động tố tụng không trở thành công cụ thăm dò hoạt động kinh doanh hoặc tiếp cận trái phép bí mật của doanh nghiệp khác.
Một thách thức khác nằm ở giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử. Ảnh chụp màn hình có thể phản ánh nội dung hiển thị tại một thời điểm nhưng chưa chắc xác định được ai kiểm soát tài khoản, nội dung tồn tại trong bao lâu, có bao nhiêu giao dịch hoặc dòng tiền được chuyển đến đâu.
Giá trị chứng minh phụ thuộc vào nguồn tạo lập, thời điểm, phương thức thu thập, quá trình lưu trữ, tính toàn vẹn và khả năng xác định chủ thể liên quan. Với vụ việc có giá trị lớn, dữ liệu cần được đối chiếu với thông tin giao dịch, thanh toán, vận chuyển hoặc nhật ký hệ thống trong phạm vi pháp luật cho phép.
Bên cạnh đó, tranh chấp về phần mềm, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn thường đòi hỏi kiến thức kỹ thuật chuyên sâu. Kết luận giám định có thể hỗ trợ làm rõ vấn đề chuyên môn, nhưng không thay thế việc đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử.
Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng nhấn mạnh, khi tài liệu hoặc ý kiến chuyên môn có sự khác biệt, bản án cần phân tích giá trị chứng minh của từng tài liệu trong mối liên hệ với các chứng cứ khác. Việc nhận định phải dựa trên kết quả đánh giá khách quan, toàn diện và quy định pháp luật, không chỉ căn cứ vào một kết luận chuyên môn riêng lẻ.
Cùng với đó, việc tiếp cận chứng cứ phải tính đến yêu cầu bảo vệ bí mật kinh doanh. Mã nguồn, quy trình sản xuất, thiết kế chưa công bố, danh sách khách hàng hoặc hợp đồng phân phối có thể cần thiết cho việc giải quyết vụ án, nhưng việc công khai không giới hạn lại có nguy cơ gây tổn hại đến lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.
Vì vậy, thu thập và sử dụng tài liệu cần giới hạn trong phạm vi liên quan trực tiếp đến vấn đề phải chứng minh; thông tin không cần thiết có thể được che hoặc tách riêng; việc tiếp cận, sao chép và sử dụng phải tuân thủ quy định pháp luật.
Từ thực tiễn xét xử, Thẩm phán Hoàng Thanh Dũng đánh giá cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong cung cấp thông tin pháp lý, ý kiến chuyên môn, kết luận giám định theo yêu cầu của Tòa án có ý nghĩa hỗ trợ giải quyết những vụ việc phức tạp, nhất là tranh chấp có yếu tố kỹ thuật hoặc phát sinh trên môi trường số.
Dù vậy, trách nhiệm đánh giá chứng cứ vẫn thuộc Hội đồng xét xử. Công nghệ có thể giúp ghi nhận, lưu trữ và đối chiếu lượng lớn thông tin, nhưng không tự động biến mọi dữ liệu thành chứng cứ đủ sức thuyết phục.
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thời đại số vì thế không chỉ là phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm. Đó còn là khả năng bảo toàn dấu vết, tiếp cận đúng dữ liệu, chứng minh được thiệt hại và bảo đảm mỗi quyết định về bồi thường có căn cứ pháp lý, phù hợp với những gì thực tế đã được chứng minh.
Bài 2: Để công lý đi trọn hành trình
Nhóm PV