congly.vn

Thể thao

Từ không gian hội làng tới nền công nghiệp thể thao

Minh Hoàng

Trong tâm thức người Việt, tiếng hò reo náo nhiệt xung quanh các sới vật dân tộc, đường đua ghe ngo hay những trận kéo co không chỉ là không khí mùa xuân, nó còn là một phần của đời sống tinh thần không thể thiếu. Việc chuyển đổi từ không gian hội làng truyền thống sang ngành công nghiệp thể thao yêu cầu giải quyết dung hòa giữa bảo tồn bản sắc văn hóa và phát triển kinh tế thương mại.

Từ "sân chơi" cộng đồng đến "thương trường" chuyên nghiệp

Thể thao hội làng từ lâu đã là mạch nguồn nuôi dưỡng tinh thần thượng võ và bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang thúc đẩy thể thao trở thành một ngành kinh tế có giá trị hàng trăm tỷ USD, thể thao truyền thống Việt Nam cũng đứng trước một bước chuyển mình quan trọng: đưa di sản làng xã trở thành một bộ phận cấu thành của nền công nghiệp thể thao và giải trí hiện đại.

Đây là bài toán đòi hỏi sự hài hòa giữa bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và phát huy tiềm năng kinh tế, thương mại.

công nghiệp thể thao
Thành công của Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số Việt Nam - Cúp VTV cho thấy tiềm năng đưa thể thao cộng đồng trở thành sản phẩm truyền thông và du lịch văn hóa. (Ảnh: VTV)

Để giải quyết bài toán này, bước chuyển mình đầu tiên nằm ở tư duy quản trị: chuyển từ mô hình phong trào sang mô hình tổ chức sự kiện có khả năng khai thác giá trị thương mại. Lâu nay, các môn thể thao hội làng chủ yếu vận hành dựa trên ngân sách địa phương hoặc tiền quyên góp của người dân, diễn ra trong phạm vi hẹp và mang tính thời vụ.

Muốn xây dựng nền công nghiệp thể thao, các bộ môn này cần được "chuyên nghiệp hóa". Luật chơi cần được chuẩn hóa để bảo đảm tính minh bạch, công bằng và hấp dẫn đối với khán giả hiện đại. Thay vì chỉ xuất hiện trong một vài ngày mỗi năm, các giải đấu thể thao dân tộc cần được tổ chức theo hệ thống thi đấu định kỳ, có bảng xếp hạng và hệ thống giải thưởng hấp dẫn, qua đó thu hút vận động viên có trình độ tham gia tranh tài.

Trong quá trình thương mại hóa chúng ta cần “làm mới” hội làng bằng những cách thức tổ chức và quảng bá hiện đại. Ví dụ, đường đua thuyền truyền thống không còn bị thu hẹp trong phạm vi làng xã mà có thể tiếp cận đông đảo khán giả thông qua các nền tảng số và truyền hình. Bản quyền phát sóng, phân phối nội dung trên nhiều nền tảng và cơ chế tài trợ phù hợp là những yếu tố quan trọng mở ra giá trị thương mại từ các hoạt động thể thao truyền thống. Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số là một ví dụ cho thấy thể thao cộng đồng có thể tạo sức lan tỏa truyền thông và góp phần phát triển du lịch văn hóa.

Khi một trận chung kết vật dân tộc hay một giải đua thuyền rồng được phát sóng trực tiếp với chất lượng hình ảnh và âm thanh tốt, sức hút của nó có thể mở rộng tới đông đảo khán giả, kể cả những người ở ngoài địa phương tổ chức. Sự chú ý của đông đảo khán giả trên mạng xã hội có thể tạo điều kiện thu hút các tập đoàn lớn, nhãn hàng tham gia tài trợ, quảng báo thương hiệu và cung cấp trang thiết bị thi đấu. Việc tích hợp logo doanh nghiệp vào các giải đấu gắn với không gian văn hóa truyền thống một cách tinh tế không những không làm mất đi giá trị của hội làng mà còn góp phần tạo nguồn tài chính ổn định để tái đầu tư cho giải đấu và cộng đồng địa phương.

Giữ "gốc" văn hóa khi làm kinh tế

Kinh nghiệm từ một số quốc gia phát triển cho thấy, kinh tế thể thao không thể phát triển tách rời các lĩnh vực kinh tế khác. Muốn tối đa hóa giá trị, thể thao truyền thống phải được đặt trong một hệ thống sinh thái gắn kết chặt chẽ với du lịch, dịch vụ ẩm thực, lưu trú và công nghiệp văn hóa.

Một giải đua ghe Ngo tại Đồng bằng sông Cửu Long hay giải vật dân tộc tại Bắc Ninh không chỉ dừng lại ở hoạt động thi đấu. Các sự kiện này cần tạo thêm lý do để du khách lưu lại và trải nghiệm địa phương, chẳng hạn như mua sắm sản phẩm lưu niệm, thưởng thức đặc sản địa phương, sử dụng dịch vụ khách sạn và tham quan các di tích lịch sử lân cận.

Qua đó, sự kiện thể thao cộng đồng có thể thu hút không chỉ khán giả mà còn cả du khách văn hóa, góp phần mở rộng chuỗi cung ứng dịch vụ và tạo thêm nguồn thu cho địa phương.

Nỗi lo lớn nhất khi thương mại hóa hội làng chính là nguy cơ làm phai nhạt bản sắc, biến các nghi lễ truyền thống thành những màn trình diễn chỉ phục vụ mục tiêu thương mại. Do đó, việc bảo tồn bản sắc văn hóa phải được xem là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế thể thao.

Thương mại hóa không có nghĩa là xóa bỏ tính nhân văn hay các nghi lễ thờ cúng, tế lễ trước mỗi hội làng. Ngược lại, chính tính độc bản của các nghi thức văn hóa đó lại là lợi thế cạnh tranh quan trọng, tạo nên sức hút riêng biệt của thể thao truyền thống Việt Nam so với các môn thể thao hiện đại phương Tây. Doanh nghiệp tham gia với tư cách là người đồng hành, khai thác giá trị kinh tế của sự kiện thể thao nhưng phải tôn trọng và bảo tồn phần "hồn" di sản của cộng đồng chủ thể.

Quá trình đưa thể thao hội làng trở thành một bộ phận của nền công nghiệp thể thao cần có nền tảng pháp lý vững chắc và cơ chế quản lý phù hợp. Hiện nay, cơ chế quản lý các thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở và việc triển khai hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực thể thao vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện.

Nhà nước cần đóng vai trò kiến ​​tạo, xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi khuyến khích tư nhân đầu tư vào thể thao truyền thống. Các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền thương hiệu sự kiện và phân chia lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp đầu tư với cộng đồng dân cư bản địa cần được quy định rõ ràng. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu vận động viên, bán vé điện tử và vận hành giải đấu sẽ giúp nâng cao năng lực quản trị, hướng tới tiêu chuẩn quốc tế.

Chuyển đổi từ "thể thao hội làng" sang "nền công nghiệp thể thao mang bản sắc dân tộc" là một hành trình dài hạn, đòi hỏi tầm nhìn chiến lược và sự đồng lòng của cả ba bên: Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân dân. Khi sới vật làng quê được quảng bá bằng các phương thức truyền thông chuyên nghiệp và tổ chức với nguồn lực đầu tư bài bản, thể thao truyền thống không chỉ có thêm cơ hội được bảo tồn và phát huy mà còn có thể trở thành nguồn lực phát triển kinh tế, góp phần quảng bá bản sắc văn hóa và nâng cao vị thế Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Minh Hoàng