Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Cắt giảm thủ tục phải đi đôi với kiểm soát rủi ro
Tán thành chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính về môi trường, cơ quan thẩm tra đề nghị phân loại dự án chính xác theo mức độ rủi ro, tăng cường hậu kiểm và kiểm soát chặt nguồn thải, bảo đảm cải cách không làm giảm hiệu quả bảo vệ môi trường.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, sáng 24/10, Quốc hội khóa XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình, cho biết việc sửa đổi Luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

Dự thảo sửa đổi, bổ sung 79/171 điều của Luật hiện hành, tập trung vào 5 nhóm chính sách: cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tăng cường quản trị môi trường dựa trên khoa học công nghệ, chuyển đổi số và quản lý rủi ro; thúc đẩy tái chế, tái sử dụng chất thải, kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm của nhà sản xuất; hoàn thiện quản lý chất lượng môi trường không khí, nước; tăng cường ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon trong nước.
Trong đó, dự thảo cắt giảm đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đơn giản hóa thủ tục cấp giấy phép môi trường, chuyển một số đối tượng sang đăng ký môi trường và đẩy mạnh thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử. Đồng thời, bổ sung cơ chế giám sát, cảnh báo sớm nguy cơ ô nhiễm; hoàn thiện quy định về phân loại, thu gom, tái chế chất thải và quản lý phát thải khí nhà kính.

Đề nghị bảo đảm tính khả thi, kiểm soát chặt chẽ rủi ro môi trường
Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật và đánh giá hồ sơ dự án Luật đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét.
Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát để thể chế hóa đầy đủ Kết luận số 75-KL/TW, trong đó có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh doanh xanh, kinh tế tuần hoàn và yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Cơ quan soạn thảo cần chịu trách nhiệm về tính khả thi, minh bạch của các chính sách, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý, tham nhũng, tiêu cực và điểm nghẽn khi triển khai.
Về phân loại dự án và ĐTM, Ủy ban tán thành chủ trương phân loại theo mức độ rủi ro, thu gọn còn 3 nhóm và mở rộng đối tượng được miễn ĐTM. Tuy nhiên, việc cắt giảm thủ tục phải đi đôi với tiêu chí phân loại chính xác, định lượng các yếu tố nhạy cảm và cơ chế hậu kiểm hiệu quả. Cần thận trọng khi loại bỏ các yếu tố như khu dân cư tập trung, nguồn nước sinh hoạt; không miễn ĐTM đối với các dự án thứ cấp trong khu, cụm công nghiệp có nguồn thải lớn, chất thải độc hại hoặc nhập khẩu phế liệu.

Đối với giấy phép môi trường, Ủy ban đề nghị chuyển từ tư duy cấp phép xả thải sang cấp phép vận hành môi trường, quy định rõ điều kiện phát thải, vận hành công trình bảo vệ môi trường, quan trắc tự động và quản lý rủi ro. Các thủ tục cần được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử, không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại dữ liệu đã được xác thực trên hệ thống quốc gia.
Về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì, cần quy định lộ trình phù hợp với năng lực hạ tầng tái chế, xem xét cơ chế bù trừ nghĩa vụ giữa các sản phẩm cùng nhóm. Đối với phân loại chất thải rắn sinh hoạt, cần xác định rõ trách nhiệm của đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý; đồng thời cho phép địa phương triển khai phân loại thành hai nhóm phù hợp với hạ tầng hiện có, hướng tới giảm chôn lấp, tăng tái chế và thu hồi năng lượng.

Ủy ban cũng đề nghị đánh giá kỹ việc chuyển tần suất kiểm kê khí nhà kính từ hai năm một lần sang hằng năm, theo hướng áp dụng chu kỳ hằng năm đối với cơ sở phát thải lớn hoặc biến động mạnh, duy trì chu kỳ hai năm đối với cơ sở có mức phát thải ổn định.
Đáng chú ý, về quan trắc và dữ liệu môi trường, Ủy ban đề nghị quản lý toàn bộ chuỗi dữ liệu từ thiết bị đo đến hệ thống tiếp nhận, bảo đảm có mã định danh, dấu thời gian và nhật ký điện tử; mọi thao tác chỉnh sửa phải được lưu vết. Hành vi can thiệp trái phép, xóa hoặc làm sai lệch dữ liệu cần được xác định rõ và có chế tài tương xứng, nhằm bảo đảm độ tin cậy của dữ liệu và nâng cao hiệu quả hậu kiểm, xử lý vi phạm.
Mai Đỉnh - Đỗ Việt