congly.vn

Chính trị

Bộ Chính trị yêu cầu hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm trong năm 2026

Hà An

Hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm thống nhất trong hệ thống chính trị trong năm 2026; bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, có nguồn gốc, được kiểm tra, xác nhận, có khả năng kết nối, khai thác và cập nhật, phục vụ trực tiếp công tác cán bộ.

Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Bộ Chính trị nêu tại Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế.

Xác định vị trí việc làm theo nhiệm vụ và sản phẩm đầu ra

Theo Kết luận số 107-KL/TW, vị trí việc làm được xác định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị; gắn với nội dung công việc, sản phẩm, kết quả, trách nhiệm và yêu cầu năng lực. Quá trình xác định cũng phải tính đến tác động của phân cấp, phân quyền, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, cơ chế tự chủ và xã hội hóa. Không lấy số lượng nhân sự hiện có, ngạch, bậc hoặc chỉ tiêu biên chế đã giao làm căn cứ trực tiếp để xác định vị trí việc làm.

bo-chinh-tri.jpg
Bộ Chính trị yêu cầu hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm trong năm 2026. Ảnh minh họa

Mỗi vị trí gắn với một nhóm công việc tương đối ổn định, có sản phẩm và trách nhiệm rõ ràng; không hình thành vị trí việc làm riêng chỉ do công đoạn, nhiệm vụ đột xuất hoặc khác biệt về ngạch, bậc. Tích hợp những vị trí công việc có tính chất tương đồng và sử dụng chung nhân lực khi phù hợp.

Thống nhất nội dung mô tả cơ bản về nhiệm vụ, sản phẩm, thẩm quyền, quan hệ phối hợp và yêu cầu năng lực; phù hợp với đặc thù công tác Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và từng lĩnh vực chuyên ngành.

Phân định rõ nhiệm vụ chủ trì, phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan, các cấp; khắc phục triệt để tình trạng giao thoa, chồng chéo, bỏ sót, trùng lặp; gắn phân cấp với năng lực thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.

Rà soát, điều chỉnh khi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mô hình tổ chức, phương thức làm việc thay đổi; kế thừa nội dung còn phù hợp, không yêu cầu lập lại toàn bộ hồ sơ.

Về xác định nhu cầu nhân lực và quản lý biên chế, Bộ Chính trị yêu cầu áp dụng phương pháp phù hợp với tính chất từng công việc để xác định nhu cầu nhân lực từ nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết.

Đối với công việc tham mưu, nghiên cứu, thẩm tra, giám sát và phục vụ các cơ quan lãnh đạo, phải tính đến yếu tố đặc thù như tiến độ, trách nhiệm đối với sản phẩm, nhiệm vụ đột xuất, công việc cao điểm và yêu cầu duy trì năng lực chuyên môn; không áp dụng cơ học định mức giải quyết hồ sơ hành chính.

Không đồng nhất một vị trí việc làm với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; không tự động quy đổi nhu cầu nhân lực thành chỉ tiêu biên chế.

Xem xét đồng bộ tác động của 4 nhóm yếu tố: Địa giới hành chính; quy mô, trình độ phát triển; mức độ phân cấp, phân quyền; khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tự chủ và xã hội hoá. Chú trọng đặc điểm của 4 nhóm địa bàn (đô thị đặc biệt, đô thị, đồng bằng, miền núi) và điều kiện đặc thù của từng địa phương; không bình quân, cào bằng hoặc áp dụng máy móc theo vùng.

Đối chiếu nhu cầu với số người hiện có, biên chế được giao, cơ cấu, chuyên môn, năng lực, phân bổ và nguồn kinh phí; xác định đúng nơi thừa, nơi thiếu, nơi bố trí chưa phù hợp. Không lấy chênh lệch số người hoặc biên chế hiện có làm căn cứ duy nhất để đề xuất điều chỉnh.

Ưu tiên bố trí lại, điều chuyển, đào tạo, sàng lọc, kiêm nhiệm, sử dụng chung nhân lực và đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm phù hợp với chức danh, năng lực, thẩm quyền và điều kiện thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm tính khách quan, liên tục và kịp thời; trường hợp đề xuất tăng biên chế phải có căn cứ kiểm chứng, đúng thẩm quyền và bảo đảm kiểm soát tổng biên chế.

Quản lý chặt chẽ tổng biên chế được giao; định kỳ rà soát, điều chỉnh trên cơ sở nhiệm vụ, nhu cầu nhân lực và kết quả sử dụng biên chế. Ưu tiên thu hồi, điều chuyển biên chế từ nơi giảm nhiệm vụ, sử dụng chưa hiệu quả sang nơi thực sự cần thiết; gắn tuyển dụng, bố trí, điều chuyển, tinh giản biên chế với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ.

5 nhiệm vụ trọng tâm trong hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm

Để triển khai thực hiện, Bộ Chính trị xác định 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Thứ nhất, khẩn trương rà soát, điều chỉnh, cập nhật vị trí việc làm theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và mô hình tổ chức mới; xác định rõ công việc, sản phẩm đầu ra, khối lượng, mức độ phức tạp, trách nhiệm và yêu cầu năng lực của từng vị trí. Trong đó, chú trọng phân định nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp, phân cấp, phân quyền, nhất là ở cấp xã.

Thứ hai, thống nhất phương pháp phân tích nhiệm vụ, xác định công việc, sản phẩm, trách nhiệm và nhu cầu nhân lực, phù hợp với đặc thù từng khối, ngành, lĩnh vực và nhóm địa bàn. Việc điều chỉnh, tích hợp, bãi bỏ nhiệm vụ hoặc bổ sung vị trí việc làm phải đúng thẩm quyền, có căn cứ kiểm chứng, không áp dụng máy móc một công thức, định mức hoặc tỷ lệ chung.

Thứ ba, hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm thống nhất trong hệ thống chính trị trong năm 2026. Dữ liệu phải đầy đủ, chính xác, có nguồn gốc, được kiểm tra, xác nhận, có khả năng kết nối, khai thác và cập nhật, phục vụ trực tiếp công tác cán bộ và xây dựng phương án giao biên chế giai đoạn 2027–2031. Việc thu thập, kết nối và khai thác dữ liệu phải đúng thẩm quyền, bảo đảm bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và thông tin cá nhân theo quy định.

Thứ tư, tập trung rà soát, bố trí, cơ cấu lại nhân lực và xây dựng phương án giao biên chế giai đoạn 2027–2031, báo cáo Bộ Chính trị trong quý IV/2026. Việc sắp xếp, điều chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nhân lực hiện có được ưu tiên trước khi đề xuất điều chỉnh biên chế.

Thứ năm, gắn vị trí việc làm với tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc và phát triển đội ngũ cán bộ dựa trên sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc. Từ năm 2027, tiếp tục chuẩn hóa danh mục, bản mô tả công việc, khung năng lực, dữ liệu và phương pháp xác định nhu cầu nhân lực, phục vụ quản trị nhân lực và cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình.

Xem toàn văn Kết luận số 107-KL/TW tại đây.

Hà An