Giáo dục
Thông tư 57 thay đổi cách bảo đảm chất lượng giáo dục
Thông tư 57 chuyển cách bảo đảm chất lượng giáo dục từ đánh giá theo từng thời điểm sang thực hiện thường xuyên, chú trọng quá trình, kết quả và cải tiến liên tục. Hơn 15.000 đại biểu đã được tập huấn về quy định mới.
Ngày 23/9, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tổ chức Hội nghị tập huấn trực tuyến triển khai Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT về bảo đảm chất lượng giáo dục trường mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông. Hội nghị có 15.080 đại biểu tham dự tại các điểm cầu trên toàn quốc.
Thành phần tham dự gồm đại diện các đơn vị thuộc Bộ GD&ĐT, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các Sở GD&ĐT, phòng Văn hóa - Xã hội thuộc UBND cấp xã, cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông cùng báo cáo viên, chuyên gia.
Thông tư 57 giảm hồ sơ, tăng cải tiến chất lượng
Tại hội nghị, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng Phạm Quốc Khánh cho biết Thông tư 57 kế thừa những kết quả đã đạt được, đồng thời khắc phục những hạn chế trong công tác bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận được chuyển từ đánh giá chất lượng theo từng thời điểm sang bảo đảm chất lượng thường xuyên; từ chú trọng hồ sơ sang chú trọng quá trình và kết quả; từ kiểm tra để xác nhận sang quản trị để cải tiến chất lượng liên tục.
Theo đó, bảo đảm chất lượng trở thành một bộ phận của quản trị nhà trường, được thực hiện trong các hoạt động hằng ngày như xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ, tổ chức dạy học, phát triển đội ngũ, quản lý điều kiện giáo dục, theo dõi kết quả và điều chỉnh hoạt động.

Thông tư 57 cũng không đặt ra yêu cầu hình thành thêm hệ thống hồ sơ mới. Tinh thần triển khai là giảm hồ sơ riêng, tăng sử dụng dữ liệu hiện có; giảm thủ tục, tăng trách nhiệm; giảm đánh giá hình thức và tăng cải tiến thực chất.
4 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí bảo đảm chất lượng
Hệ thống đánh giá được tinh gọn còn 4 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí, tập trung vào quản trị nhà trường và bảo đảm chất lượng; phát triển đội ngũ; thực hiện chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục và phát triển người học; điều kiện giáo dục, môi trường an toàn và phối hợp xã hội.
Các mức đánh giá không nhằm xếp hạng nhà trường hoặc chỉ xác định đạt, không đạt tại một thời điểm. Thay vào đó, kết quả được sử dụng để theo dõi sự phát triển chất lượng theo thời gian, giúp nhà trường nhận diện điểm mạnh, hạn chế và những nội dung cần ưu tiên cải tiến.
Cùng với đó, Thông tư tăng cường sử dụng dữ liệu quản lý, hồ sơ điện tử và kết quả hoạt động, chuyển từ “minh chứng để đánh giá” sang “dữ liệu để quản lý”.
Bảo đảm chất lượng gắn với từng cấp học
Đối với giáo dục mầm non, việc triển khai Thông tư 57 được đặt trong yêu cầu mở rộng phổ cập, bảo đảm quyền được chăm sóc, giáo dục của trẻ em. Các địa phương cần gắn việc thực hiện quy định mới với lộ trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi, đồng thời bảo đảm đội ngũ và điều kiện cơ sở vật chất.
Theo thông tin tại hội nghị, cấp mầm non hiện còn thiếu 15.205 giáo viên, trong khi khoảng cách chất lượng giữa các vùng miền còn đáng kể. Do đó, nguồn lực cần được ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và khu công nghiệp.
Ở cấp phổ thông, các nhiệm vụ trọng tâm được đề cập gồm chuyển đổi số, đưa AI vào nhà trường, tăng cường giáo dục STEM, từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai và chuyển từ quản lý sang quản trị phát triển nhà trường.
AI được xác định là công cụ hỗ trợ tổ chức dạy và học, không thay thế vai trò của giáo viên. Với giáo dục STEM, trọng tâm là giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, tăng cường thực hành và trải nghiệm.
Đối với tiếng Anh, định hướng là tạo môi trường sử dụng ngôn ngữ này trong trường học, từng bước đưa tiếng Anh vào các môn học. Các nội dung về chuyển đổi số, STEM, AI và tiếng Anh cũng được định hướng đưa vào chiến lược phát triển và kế hoạch giáo dục của từng nhà trường.
Hội nghị dành thời gian trao đổi, làm rõ những vấn đề còn vướng mắc trong triển khai Thông tư 57, hướng tới thống nhất nhận thức, cách thực hiện và cơ chế phối hợp, đồng thời bảo đảm việc áp dụng phù hợp với thực tiễn của từng địa phương, cơ sở giáo dục.