Văn hóa- Thể thao

Từ thói quen đọc đến xã hội học tập: Con đường bền vững của tri thức

Phụng Thiên 20/04/2026 - 08:56

Trong dòng chảy số hóa và toàn cầu hóa, văn hóa đọc đứng trước thách thức lẫn cơ hội, đòi hỏi những cách tiếp cận bền vững để giữ gìn bản sắc và nuôi dưỡng tư duy xã hội.

Trong thời đại công nghệ số và toàn cầu hóa, văn hóa đọc không chỉ đối diện với thách thức mà còn mở ra cơ hội mới. Sách vẫn giữ vai trò đặc biệt trong việc nuôi dưỡng bản sắc dân tộc, rèn luyện tư duy phản biện và xây dựng xã hội học tập.

Để văn hóa đọc lan tỏa, cần chính sách lâu dài, sự đồng hành của gia đình, cộng đồng và sự thích ứng sáng tạo với môi trường số. Nhân dịp ngày Sách và Văn hóa đọc lần thứ V (21/4/2026) sắp diễn ra, Tiến sĩ Phạm Việt Long - nguyên Chánh Văn phòng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước đây là Bộ Văn hóa - Thông tin), Chủ tịch HĐQT Nhà xuất bản Dân trí đã có những chia sẻ đầy tâm huyết liên quan tới vấn đề này.

pvl3.jpg
Nuôi dưỡng trí tuệ xã hội từ những trang sách.

Phóng viên (PV): Theo ông, vai trò của sách trong việc hình thành và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay được thể hiện như thế nào?

Tiến sĩ Phạm Việt Long: Theo tôi, sách có vai trò đặc biệt trong việc hình thành, lưu giữ và nuôi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc. Nếu di tích, lễ hội, phong tục, tiếng nói, lối sống là những biểu hiện sống động của văn hóa, thì sách là nơi văn hóa được kết tinh thành tri thức, ký ức và kinh nghiệm. Một dân tộc có thể đi qua nhiều biến động, nhưng nếu còn giữ được sách, còn đọc sách, còn truyền lại những giá trị cốt lõi qua sách, thì dân tộc ấy vẫn giữ được mạch nối tinh thần của mình.

Bản sắc văn hóa không phải là một khối đóng kín, bất biến, chỉ thuộc về quá khứ. Đó là sự tiếp nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong sự tiếp nối ấy, sách giữ vai trò như một dòng chảy âm thầm nhưng bền bỉ. Qua sách, các thế hệ sau hiểu tổ tiên mình đã sống thế nào, nghĩ ra sao, đã vượt qua chiến tranh, nghèo đói, thiên tai và thử thách bằng tinh thần nào. Sách lịch sử giúp chúng ta biết mình từ đâu đến. Sách văn học giúp chúng ta nhận ra tâm hồn dân tộc. Sách nghiên cứu văn hóa giúp ta hiểu phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật, ngôn ngữ, nếp sống và những giá trị đạo lý đã làm nên căn cốt Việt Nam.

Một vai trò rất quan trọng của sách là giữ gìn tiếng Việt. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là nơi cư trú của tâm hồn dân tộc. Một câu ca dao, một trang Kiều, một trang văn hay không chỉ truyền đạt nội dung, mà còn giữ lại sắc thái tư duy, nhịp điệu cảm xúc và cách nhìn đời của người Việt. Khi người trẻ đọc sách tiếng Việt nghiêm túc, họ được bồi đắp năng lực cảm thụ tiếng mẹ đẻ, điều rất cần trong thời đại ngôn ngữ mạng và sự lai tạp thiếu chọn lọc.

pvl1.jpg
Tiến sĩ Phạm Việt Long - nguyên Chánh Văn phòng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước đây là Bộ Văn hóa - Thông tin).

Sách cũng giúp con người biết tự vấn về chính mình. Một dân tộc chỉ thực sự có bản sắc khi biết mình là ai, có gì đáng tự hào, có gì cần khắc phục, giá trị nào cần bảo vệ, hạn chế nào cần vượt qua. Sách không chỉ ca ngợi truyền thống, mà còn giúp ta nhìn truyền thống bằng con mắt tỉnh táo. Nhờ đọc sách, chúng ta biết yêu văn hóa dân tộc nhưng không tự mãn; biết tiếp nhận cái mới nhưng không đánh mất gốc rễ.

Trong bối cảnh xã hội vận động nhanh, sách càng cần thiết. Phương tiện nghe nhìn có thể tạo tác động tức thời, nhưng sách tạo chiều sâu. Một đoạn video có thể gây xúc động trong vài phút, nhưng một cuốn sách hay có thể thay đổi cách nghĩ của con người trong nhiều năm. Vì thế, nói đến bản sắc văn hóa dân tộc, không thể chỉ nói đến bảo tồn lễ hội hay di sản vật thể, mà còn phải nói đến việc đọc, viết, xuất bản, lưu truyền và đối thoại với sách. Một dân tộc biết đọc là một dân tộc biết giữ ký ức, biết suy nghĩ về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

PV: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số, làm thế nào để văn hóa đọc của người Việt vừa hội nhập quốc tế vừa giữ được nét riêng thưa ông?

Tiến sĩ Phạm Việt Long: Trước hết, cần nhìn toàn cầu hóa và công nghệ số bằng thái độ bình tĩnh, chủ động. Không nên coi chúng chỉ là mối đe dọa đối với văn hóa đọc truyền thống. Công nghệ số có thể làm con người phân tán, đọc vội hơn, đọc nông hơn; nhưng nếu biết sử dụng đúng cách, nó cũng mở ra cơ hội lớn. Nhờ công nghệ, người đọc hôm nay có thể tiếp cận kho tri thức khổng lồ của nhân loại. Vấn đề không phải là chống lại công nghệ, mà là xây dựng năng lực lựa chọn, đọc sâu và tiêu hóa tri thức.

Để văn hóa đọc của người Việt vừa hội nhập quốc tế vừa giữ được nét riêng, cần đi theo hai hướng. Một mặt, phải khuyến khích người Việt đọc rộng hơn, tiếp xúc nhiều hơn với tinh hoa tri thức thế giới. Người trẻ cần đọc văn học thế giới, khoa học xã hội, lịch sử, kinh tế, công nghệ, nghệ thuật, giáo dục… Việc đọc sách nước ngoài, qua bản dịch hay nguyên bản, giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn và hiểu các mô hình phát triển khác nhau. Mặt khác, hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Càng bước ra thế giới, càng cần có nền tảng văn hóa vững. Vì vậy, bên cạnh sách thế giới, người Việt cần đọc sách Việt Nam, nhất là tác phẩm kinh điển và các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, văn học, nghệ thuật, phong tục, tín ngưỡng, đời sống con người Việt Nam.

Cũng không nên đặt sách giấy và sách điện tử, đọc truyền thống và đọc trên nền tảng số trong thế đối lập gay gắt. Sách giấy giúp người đọc tập trung và có quan hệ vật chất cụ thể với văn bản. Sách điện tử, sách nói, thư viện số giúp tri thức lan tỏa nhanh hơn, tiện hơn, đến được với nhiều đối tượng hơn. Cốt lõi vẫn là chất lượng nội dung và phương pháp đọc. Đọc trên điện thoại cũng có thể nghiêm túc nếu người đọc biết tập trung, ghi chép, kiểm chứng; còn cầm sách giấy nhưng chỉ đọc lướt thì cũng chưa phải là văn hóa đọc đúng nghĩa.

Vì vậy, cần xây dựng các nền tảng số tiếng Việt có chất lượng. Nếu môi trường số tràn ngập nội dung dễ dãi, giật gân, ngắn hạn, người trẻ sẽ quen với kiểu tiếp nhận vụn vặt. Nhưng nếu có thư viện số tốt, chuyên trang giới thiệu sách nghiêm túc, chương trình đọc sách có chiều sâu, cộng đồng đọc sách văn minh, công nghệ sẽ trở thành đồng minh của văn hóa đọc. Cần làm cho sách có mặt trong đời sống số, nhưng không hạ thấp sách thành nội dung tiêu thụ nhanh.

Nét riêng của văn hóa đọc Việt Nam nằm ở chỗ gắn việc đọc với việc làm người, với trách nhiệm gia đình, cộng đồng, quê hương, đất nước. Người Việt xưa coi trọng học để tu thân, giúp đời, giữ nếp nhà. Tinh thần ấy vẫn còn nguyên giá trị. Hội nhập quốc tế là cần thiết, nhưng cái gốc của văn hóa đọc Việt Nam phải là đọc để hiểu mình, hiểu người, sống tử tế hơn, có ích hơn và có bản lĩnh hơn trước thế giới rộng lớn.

PV: Theo ông, chính sách và hoạt động văn hóa nào cần được ưu tiên để thúc đẩy thói quen đọc sách trong cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ?

Tiến sĩ Phạm Việt Long: Muốn thúc đẩy thói quen đọc sách trong cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ, trước hết phải coi văn hóa đọc là một chính sách văn hóa lâu dài, chứ không chỉ là phong trào theo mùa vụ. Ngày Sách và Văn hóa đọc có ý nghĩa quan trọng, vì tạo điểm nhấn xã hội và thu hút sự quan tâm rộng rãi. Tuy nhiên, sau ngày hội, điều quan trọng hơn là làm sao để việc đọc tiếp tục diễn ra trong đời sống hằng ngày.

Ưu tiên đầu tiên là phát triển hệ thống thư viện trường học và thư viện công cộng. Trường học không thể chỉ là nơi truyền đạt kiến thức để thi cử, mà cần trở thành không gian nuôi dưỡng thói quen đọc. Thư viện phải hấp dẫn, thân thiện, có sách phù hợp với từng lứa tuổi, có người hướng dẫn đọc, có hoạt động trao đổi, thảo luận, giới thiệu sách. Việc đọc cần trở thành một phần tự nhiên trong giáo dục, không bị biến thành áp lực hay cuộc thi hình thức.

Ưu tiên thứ hai là nâng cao vai trò của gia đình và cộng đồng. Trẻ em khó có thói quen đọc nếu trong gia đình không có sách, cha mẹ không đọc, người lớn không coi trọng việc đọc. Vì vậy, cần khuyến khích tủ sách gia đình, giờ đọc chung, thói quen tặng sách, kể chuyện sách, trao đổi với con về điều con đọc được. Đồng thời, cần tạo các không gian đọc trong cộng đồng như nhà văn hóa, thư viện phường xã, đường sách, câu lạc bộ đọc sách, tủ sách cộng đồng, điểm đọc ở vùng sâu vùng xa. Khi sách bước ra khỏi không gian hàn lâm, đến gần đời sống bình dân, văn hóa đọc mới có sức lan tỏa rộng.

pvl4.jpg
Sách vẫn là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng trí tuệ và bản sắc dân tộc, nhưng để lan tỏa trong thời đại số, cần sự chung tay từ chính sách, gia đình và cộng đồng.

Ưu tiên thứ ba là hỗ trợ xuất bản và phát hành những đầu sách có giá trị. Không thể phát triển văn hóa đọc nếu thị trường sách bị lấn át quá nhiều bởi sách dễ dãi, sách chạy theo trào lưu, sách sao chép hoặc kém chất lượng. Cần khuyến khích sách hay, sách nghiên cứu, sách thiếu nhi, sách về văn hóa Việt Nam, sách khoa học phổ thông, sách kinh điển được dịch thuật công phu. Đồng thời, cần đưa sách đến nông thôn, miền núi, hải đảo, khu công nghiệp, nơi người dân ít có điều kiện tiếp cận sách.

Riêng với giới trẻ, không nên chỉ kêu gọi chung chung rằng “hãy đọc sách”. Cần chỉ cho các em thấy đọc sách giúp gì cho chính cuộc đời các em: viết tốt hơn, nói rõ hơn, suy nghĩ mạch lạc hơn, chọn nghề sáng suốt hơn, hiểu cảm xúc của mình hơn, biết ứng xử nhân văn hơn. Các hoạt động giới thiệu sách có thể dùng video ngắn, podcast, tọa đàm, sân khấu hóa, minh họa, câu lạc bộ theo chủ đề, nhưng phải dẫn người trẻ trở lại với văn bản, với việc đọc thật.

Cuối cùng, cần tôn vinh những người đọc, người viết, người làm sách, thủ thư, giáo viên, nhà nghiên cứu, dịch giả, những cá nhân âm thầm xây dựng tủ sách cộng đồng. Văn hóa đọc không thể phát triển nếu thiếu người truyền lửa. Một chính sách đúng phải nhìn thấy và nâng đỡ những người đang bền bỉ làm công việc ấy.

PV: Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ giữa văn hóa đọc và sự phát triển của tư duy phản biện trong xã hội hiện đại?

Tiến sĩ Phạm Việt Long: Văn hóa đọc và tư duy phản biện có quan hệ rất mật thiết. Một xã hội đọc ít, đọc nông, đọc theo tin đồn hoặc cảm xúc đám đông thì rất khó hình thành tư duy phản biện lành mạnh. Ngược lại, một xã hội có thói quen đọc nghiêm túc sẽ có điều kiện tốt hơn để phát triển năng lực suy nghĩ độc lập, biết đặt câu hỏi, biết kiểm chứng thông tin, biết phân biệt giữa sự kiện và ý kiến, giữa tri thức và định kiến.

Tư duy phản biện không phải là thói quen phủ nhận mọi thứ, càng không phải là thái độ cực đoan, thích tranh cãi để hơn thua. Đó là khả năng xem xét vấn đề từ nhiều phía, biết lắng nghe lập luận khác, biết yêu cầu bằng chứng, biết điều chỉnh nhận thức khi gặp thông tin đúng hơn. Muốn có năng lực ấy, con người cần tiếp xúc với những văn bản có chiều sâu. Sách nghiên cứu, sách lý luận, sách lịch sử, sách văn học lớn thường buộc người đọc phải suy nghĩ chậm lại, theo dõi một hệ thống lập luận, đối diện với những tình huống phức tạp. Chính quá trình ấy rèn luyện trí óc.

Trong xã hội hiện đại, con người tiếp nhận rất nhiều tin tức từ mạng xã hội, báo điện tử, video, bình luận, hình ảnh. Nhưng nhiều thông tin rất ngắn, rất nhanh, rất dễ kích động cảm xúc. Nếu không có nền tảng đọc sâu, người ta dễ tin vào điều mình muốn tin, dễ chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, dễ bị cuốn vào những phán xét vội vàng. Văn hóa đọc giúp con người có sức đề kháng trí tuệ. Người đọc nhiều, đọc kỹ thường thận trọng hơn trước các kết luận đơn giản. Họ hiểu rằng đời sống phức tạp hơn một khẩu hiệu.

Văn học cũng có vai trò đặc biệt trong việc phát triển tư duy phản biện. Một tiểu thuyết lớn có thể giúp người đọc bước vào nhiều số phận và hoàn cảnh đạo đức khác nhau. Khi đọc, ta học cách không vội kết án, không nhìn con người bằng một màu duy nhất. Đó cũng là nền tảng của tư duy phản biện: biết rằng sự thật thường có nhiều tầng, và mọi vấn đề xã hội cần được xem xét trong bối cảnh cụ thể.

Tuy nhiên, không phải cứ đọc nhiều là có tư duy phản biện. Nếu đọc một chiều, chỉ đọc những gì củng cố sẵn định kiến của mình, hoặc đọc theo tâm lý thần tượng hóa tác giả, thì việc đọc ấy chưa chắc giúp mở rộng trí tuệ. Văn hóa đọc đúng nghĩa phải bao gồm năng lực lựa chọn sách, năng lực đối thoại với sách và năng lực tự phản tỉnh. Đọc sách không phải để nhắc lại nguyên văn điều người khác nói, mà để hiểu, suy ngẫm, so sánh và rút ra nhận thức riêng.

Một xã hội hiện đại rất cần tư duy phản biện, nhưng tư duy phản biện muốn lành mạnh phải dựa trên tri thức, đạo đức và tinh thần xây dựng. Văn hóa đọc góp phần tạo ra nền tảng ấy. Nó giúp con người bớt nông nổi, bớt cực đoan, bớt chạy theo đám đông; đồng thời hình thành những công dân biết suy nghĩ độc lập, biết bảo vệ điều đúng nhưng vẫn tôn trọng đối thoại.

PV: Từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa, theo ông, đâu là thách thức lớn nhất đối với việc xây dựng một xã hội học tập dựa trên nền tảng văn hóa đọc?

Tiến sĩ Phạm Việt Long: Từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa, thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là người ta đọc ít hơn, mà là việc đọc đang bị cạnh tranh mạnh bởi một lối sống gấp, phân tán và tiêu thụ nhanh. Xây dựng xã hội học tập không thể chỉ dựa vào khẩu hiệu “học suốt đời” hay “đọc sách nhiều hơn”. Điều khó nhất là biến việc học, việc đọc thành nhu cầu tự thân, thành nếp sống được xã hội tôn trọng thật sự.

Chúng ta đang sống trong thời đại mà sự chú ý của con người bị chia nhỏ. Điện thoại thông minh, mạng xã hội, video ngắn, các nền tảng giải trí liên tục mời gọi. Nhiều người có thể dành hàng giờ để lướt thông tin nhưng lại thấy khó ngồi yên đọc một chương sách. Đây không chỉ là vấn đề cá nhân, mà là một thay đổi văn hóa sâu. Trong khi đó, đọc sách đòi hỏi sự kiên nhẫn, khả năng tập trung và khả năng đi theo một mạch tư tưởng dài. Muốn xây dựng xã hội học tập, trước hết phải khôi phục năng lực tập trung ấy.

Thách thức tiếp theo là bệnh hình thức. Nhiều nơi tổ chức ngày hội đọc sách, cuộc thi kể chuyện sách, phong trào quyên góp sách, nhưng sau đó thư viện vẫn vắng, học sinh vẫn đọc đối phó, người lớn vẫn ít mua sách, ít đọc sách. Nếu văn hóa đọc chỉ được hiểu như hoạt động bề nổi, có khẩu hiệu và hình ảnh truyền thông, thì rất khó đi vào đời sống. Một xã hội học tập phải được xây từ những thói quen nhỏ nhưng thật: mỗi gia đình có sách, mỗi trường học có giờ đọc, mỗi địa phương có không gian đọc, mỗi cơ quan khuyến khích tự học.

Một thách thức khác là sự bất bình đẳng trong tiếp cận sách và tri thức. Ở đô thị lớn, người đọc có hiệu sách, thư viện, hội sách, nền tảng số, câu lạc bộ. Nhưng ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, trẻ em vẫn thiếu sách hay, thiếu người hướng dẫn đọc, thiếu môi trường khuyến khích học tập. Văn hóa đọc phải đến được với trẻ em nghèo, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật và cộng đồng vùng sâu vùng xa.

Bên cạnh đó là chất lượng nội dung. Người ta không thể yêu sách nếu thường xuyên gặp sách dở, sách cẩu thả, sách dịch kém, sách thiếu gần gũi với đời sống. Vì vậy, phát triển văn hóa đọc phải đi cùng nâng cao văn hóa xuất bản, văn hóa viết, văn hóa dịch thuật, văn hóa phê bình và giới thiệu sách. Người đọc cần được dẫn dắt đến những cuốn sách tốt, vì một cuốn sách hay đến đúng lúc có thể thay đổi cả đời sống tinh thần của một con người.

Sâu xa hơn, cần làm cho xã hội coi tri thức là một giá trị thực, chứ không chỉ coi bằng cấp là mục tiêu. Nếu việc học chỉ nhằm thi cử, thăng tiến, lấy chứng chỉ, thì văn hóa đọc khó phát triển bền vững. Xã hội học tập phải dựa trên niềm tin rằng con người cần học để sống tốt hơn, làm việc tốt hơn, hiểu nhau hơn và đóng góp tốt hơn cho cộng đồng. Vì vậy, xây dựng văn hóa đọc không phải là việc riêng của ngành xuất bản hay thư viện, mà là công việc của gia đình, nhà trường, truyền thông, chính sách văn hóa, thị trường sách và từng công dân.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Phụng Thiên