Chuyển động

Huy động 50% không lực tới Trung Đông, Mỹ chuẩn bị kịch bản nào với Iran?

Ngọc An 24/02/2026 - 14:20

“Những người nghiệp dư học chiến thuật, người chuyên nghiệp học hậu cần” là một châm ngôn quen thuộc trong quân sự. Lịch sử cho thấy nhiều chiến dịch thất bại không phải vì chiến thuật yếu kém mà vì hậu cần không bảo đảm.

Cuộc xâm lược Nga năm 1812 của Napoleon và chiến dịch tấn công Liên Xô năm 1941 của Hitler đều thất bại chủ yếu do đứt gãy hậu cần.

Nếu có một dấu hiệu cho thấy nguy cơ chiến tranh Mỹ - Iran là hiện hữu, thì đó là việc Washington đang tập trung mạnh vào hậu cần.

Dù đợt điều động lực lượng của Mỹ tại Trung Đông là lớn nhất trong nhiều thập kỷ, trọng tâm hậu cần cho thấy Washington đang chuẩn bị cho một chiến dịch kéo dài nhằm vào Iran, thay vì một đòn không kích đơn lẻ như hồi tháng 6 trong “Chiến dịch Midnight Hammer”. Khi đó, 7 máy bay ném bom B-2 cùng F-22 và F-35 đã tấn công ba cơ sở hạt nhân của Iran.

khong_quan_my.jpg
Máy bay chiến đấu F-22 của Không quân Hoa Kỳ. Ảnh: Không quân Hoa Kỳ

Quy mô huy động lần này bao gồm hàng trăm chuyến bay của máy bay vận tải và tiếp dầu, thiết lập “cầu hàng không”, sử dụng hàng chục máy bay vận tải C-17 Globemaster III và máy bay tiếp dầu KC-46 để vận chuyển hàng nghìn tấn đạn dược, bệnh viện dã chiến và trang thiết bị hỗ trợ.

Mỹ cũng triển khai số lượng lớn máy bay cảnh báo sớm AWACS, máy bay tác chiến điện tử và tăng cường hệ thống phòng không trong khu vực. Những động thái này cho thấy mục tiêu không chỉ dừng ở thông điệp chính trị.

“Hỏa lực này giúp Mỹ có lựa chọn tiến hành một cuộc chiến trên không kéo dài nhiều tuần chống Iran, thay vì đòn đánh một lần như ‘Midnight Hammer’”, các quan chức quốc phòng Mỹ nói với Wall Street Journal.

Robert A. Pape, Giám đốc sáng lập Dự án Chicago về An ninh & Đe dọa (CPOST), cho biết đợt huy động hiện tại chiếm khoảng 40-50% tổng năng lực không quân có thể triển khai trên toàn cầu của Mỹ.

Mỹ đã tập trung lượng không quân lớn nhất tại Trung Đông kể từ cuộc xâm lược Iraq năm 2003 và quá trình điều động vẫn đang tiếp diễn.

Washington triển khai số lượng lớn tiêm kích, gồm F-22 Raptor tàng hình, F-35, F-15, F-16 và F/A-18 Hornet. Các máy bay hỗ trợ cũng được điều động như C-17A, C-130 Hercules, máy bay tiếp dầu KC-46, máy bay trinh sát hạt nhân WC-135R, máy bay tình báo tín hiệu RC-135, máy bay cảnh báo sớm E-3 Sentry AWACS và máy bay yểm trợ mặt đất A-10 Thunderbolt.

Theo ông Pape, các nhà phân tích tình báo nguồn mở và các trang theo dõi chuyến bay đã ghi nhận gần 160 chuyến bay của C-17A, 18 chuyến của Lockheed C-5 Galaxy và nhiều chuyến khác của C-130 Hercules.

Các chuyến bay này vận chuyển hàng nghìn tấn đạn dược, hệ thống phòng không, bệnh viện dã chiến và thiết bị hỗ trợ cần thiết cho một chiến dịch kéo dài nhiều tuần.

Giới phân tích OSINT cũng theo dõi nhiều chuyến bay của KC-135 và KC-46. Mỹ đã thiết lập “cầu hàng không” xuyên Đại Tây Dương, cho phép các tiêm kích F-15, F-16, F-22 và F-35 bay quãng đường hàng nghìn km.

Nhóm Military Air Tracking Alliance – gồm khoảng 30 nhà phân tích nguồn mở – cho biết họ ghi nhận hơn 85 máy bay tiếp dầu và hơn 170 máy bay vận tải hướng tới khu vực vào giữa tháng 2.

Mỹ cũng triển khai các máy bay chuyên dụng như HC-130J Combat King II, loại máy bay cánh quạt bốn động cơ phục vụ nhiệm vụ cứu hộ nhân sự, tiếp dầu trực thăng, giám sát hàng hải, tìm kiếm cứu nạn và các nhiệm vụ đặc biệt.

article_697cc0fc8ef248_78240746.jpg
Các máy bay chiến đấu F-35C và F-18E/F trên tàu sân bay siêu hạng USS Abraham Lincoln hiện đang được triển khai tại Trung Đông.

Một máy bay “đánh hơi hạt nhân” WC-135R được triển khai tới Mildenhall (Anh), có nhiệm vụ phát hiện phóng xạ trong khí quyển, thường dùng để giám sát thử nghiệm hoặc sự cố hạt nhân.

Ba máy bay E-11A Battlefield Airborne Communications Node (BACN) được đưa tới căn cứ Prince Sultan (Arab Saudi). Loại máy bay này hoạt động như một trạm chuyển tiếp liên lạc ở độ cao lớn.

Ba máy bay E-3 Sentry AWACS được triển khai tới Mildenhall (Anh).

Một máy bay RC-135 chuyên thu thập tình báo tín hiệu, có khả năng phát hiện, nhận dạng và định vị liên lạc cùng phát xạ điện tử của đối phương gần thời gian thực, được triển khai tới Chania (Hy Lạp).

Sáu máy bay tác chiến điện tử EA-18 Growler được điều tới căn cứ Muwaffaq Salti (Jordan).

Mỹ còn triển khai hơn 24 tiêm kích F-15, hơn 35 chiếc F-35, cùng F-22, F-16 và máy bay cường kích A-10 Thunderbolt.

Washington đồng thời đưa các hệ thống phòng không Patriot và THAAD tới các căn cứ trong khu vực. Trong trường hợp bị Mỹ tấn công, Iran được dự báo có thể phóng loạt tên lửa nhằm vào Israel và các căn cứ Mỹ, do đó Washington tăng cường năng lực phòng thủ.

Ngoài lực lượng trên bộ, hàng trăm tiêm kích Mỹ hiện diện trên hai tàu sân bay.

Nhóm tác chiến tàu sân bay USS Abraham Lincoln được triển khai tại CENTCOM từ tháng 1. Đầu tháng này, Tổng thống Trump ra lệnh điều tàu sân bay USS Gerald R. Ford – tàu mới nhất và lớn nhất của Mỹ – tới khu vực.

Hai tàu sân bay này mang theo hơn 200 máy bay, gồm F/A-18 Super Hornet, EA-18 Growler, trực thăng MH-60 Seahawk, F-35C và E-2D Hawkeye.

Hải quân Mỹ hiện có 13 tàu tại khu vực, trong đó 9 tàu khu trục trang bị tên lửa hành trình Tomahawk và có khả năng phòng thủ trước tên lửa đạn đạo, cùng một số tàu ngầm không công bố.

may_bay_tiep_dau.png
Ảnh vệ tinh các máy bay KC-135 tại căn cứ Al Udeid - Qatar (trái) và đội hình “Elephant Walk” của KC-135 thuộc Không quân Mỹ.

Mỹ đã triển khai gần 40.000 binh sĩ tại 18 căn cứ quân sự trong khu vực. Hai tàu sân bay bổ sung hơn 10.000 quân, nâng tổng số lên hơn 50.000.

Chưa kể Không quân Israel, lực lượng được xem là mạnh nhất khu vực.

Với các khí tài này, Mỹ có thể duy trì một chiến dịch không kích kéo dài nhiều tuần nhằm vào Iran.

Michael O’Hanlon, chuyên gia quốc phòng và chính sách đối ngoại tại Viện Brookings, nhận định đây về mặt kỹ thuật là đợt tăng cường quân sự lớn nhất tại khu vực kể từ năm 2003, dù quy mô lực lượng khi đó lớn hơn nhiều.

Ông cho rằng nếu chỉ muốn tấn công phần còn lại của chương trình hạt nhân Iran, Mỹ có thể sử dụng máy bay ném bom tầm xa B-2 như hồi tháng 6. Lực lượng hiện nay được bố trí để vừa tấn công mục tiêu tại Iran, vừa phòng thủ trước khả năng trả đũa.

Tuy nhiên, Mỹ từng triển khai hơn 500.000 quân trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc đầu thập niên 1990 và khoảng 250.000 quân tại Iraq năm 2003.

Lần này, Washington chủ yếu tăng cường không quân và hải quân, không có sự gia tăng tương ứng về bộ binh. Điều này cho thấy nếu có chiến dịch quân sự, trọng tâm sẽ là không kích, không đưa bộ binh tham chiến.

Dù điều này không bất ngờ, do Tổng thống Trump vốn không muốn triển khai bộ binh ở nước ngoài, vẫn còn tranh luận về khả năng Mỹ đạt được mục tiêu chỉ bằng chiến dịch đường không.

Mỹ được cho là có bốn mục tiêu tại Iran: tháo dỡ chương trình hạt nhân, làm suy giảm năng lực tên lửa, buộc Tehran giải tán mạng lưới lực lượng ủy nhiệm trong khu vực gồm Hamas, Houthi và Hezbollah, và thay đổi chế độ tại Tehran.

Iran có thể chấp nhận thỏa hiệp ở mức độ nào đó về vấn đề hạt nhân và hỗ trợ lực lượng ủy nhiệm, nhưng khả năng nhượng bộ về chương trình tên lửa hoặc thay đổi chế độ được đánh giá là rất thấp.

“Nếu điều ông Trump thực sự muốn là tác động đến chế độ và làm suy giảm khả năng sử dụng tên lửa để tấn công căn cứ Mỹ, Israel, Arab Saudi và các nước vùng Vịnh, thì đó có thể phải là chiến dịch cường độ cao kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng”, học giả Eliot Cohen tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế nhận định.

Barbara Slavi, học giả cao cấp tại Trung tâm Stimson, cho rằng có vẻ chính quyền Trump đã quyết định sẽ tấn công Iran một lần nữa, có thể phối hợp với Israel. Tuy nhiên, mục tiêu cụ thể, khả năng kiểm soát xung đột và nguy cơ các bên khác bị cuốn vào vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải.

Mỹ đã chi hàng tỷ USD để đưa lực lượng tới khu vực. Trong bối cảnh Iran khó có khả năng nhượng bộ đáng kể, nguy cơ xảy ra chiến tranh Mỹ - Iran được đánh giá là rất cao.

Câu hỏi còn lại là chiến dịch không kích này sẽ kéo dài bao lâu?

Ngọc An