Bí ẩn ngôi miếu cổ có pho tượng “đứng lên, ngồi xuống”
Không chỉ là miếu cổ rêu phong qua thời gian hơn 700 năm và được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá quốc gia, miếu Bảo Hà còn nổi tiếng bởi pho tượng “đứng lên, ngồi xuống”…
Cách trung tâm TP. Hải Phòng khoảng 30-40km, huyện Vĩnh Bảo cũ (nay là các xã Vĩnh Bảo, Vĩnh Thuận, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hòa, Vĩnh Hải, Vĩnh Am và Nguyễn Bỉnh Khiêm, thuộc TP Hải Phòng), không chỉ nối tiếng với nền nông nghiệp trù phú và truyền thống hiếu học mà ở đây vẫn bảo tồn, phát huy được các giá trị lịch sử, văn hóa với rất nhiều di tích nổi tiếng như Khu di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Di tích lịch sử văn hoá quốc gia miếu Bảo Hà, Di tích quốc gia đình Cung Chúc…
Trong đó, miếu Bảo Hà (làng Bảo Hà, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo; nay thuộc xã Vĩnh Hải, TP Hải Phòng) rất nổi tiếng bởi pho tượng “đứng lên, ngồi xuống”.

Theo một số tài liệu, miếu Bảo Hà (tên chữ Hán là Tam Xã Linh Từ) - ngôi miếu cổ hơn 700 tuổi, được xây dựng để thờ Đại Vương Lý Linh Lang (chính sử ghi là Lý Hoằng Chân) và ông “Tổ nghề” tạc tượng Nguyễn Công Huệ.
Linh Lang Đại Vương sinh vào tháng Chạp, năm Giáp Thìn (1064) tại làng ở Trị Chợ, Thủ Lệ (nay thuộc TP Hà Nội), là con thứ của vua Lý Thái Tông. Khi giặc Tống xâm lược nước ta, Linh Lang quyết tâm chỉ huy quân sỹ ra trận đánh giặc. Trong một lần hành quân, ngài tới trang Linh Động (làng Bảo Hà ngày nay) dựng đồn binh, tuyển mộ quân, luyện tập binh sĩ.
Sau này, để tưởng nhớ công ơn của ngài, dân làng đã lập miếu thờ trên chính nền đồn binh xưa, tôn ngài là Thành hoàng và tạc tượng thờ tại miếu Bảo Hà. Các triều đại phong kiến về sau như đời vua Cảnh Thịnh, Tự Đức, Duy Tân và Khải Định đều sắc phong cho ngài là Thượng Đẳng thần.
Từ xa xưa, làng Bảo Hà đã là một địa danh nổi tiếng về nghề truyền thống tạc tượng, múa rối. Chính vì thế, hai pho tượng Linh Lang Đại vương ở miếu Bảo Hà nổi tiếng không chỉ là một tác phẩm độc đáo của các nghệ nhân, mà còn mang trong đó hồn cốt, khí thế oai hùng một thời của dân tộc.
Tại cung Nhất, pho tượng Đức Linh Lang Đại vương vận áo Long Cổn, đầu đội mũ Bình Thiên toát ra vẻ uy nghiêm của vị chân Chúa. Hai bên là tượng quan văn, quan võ đứng chầu và đôi câu đối có trên trăm năm tuổi nói về sự phát tích của nhà Thánh. Trước bệ tượng có một giếng gọi là giếng “mắt rồng” với đường kính rộng chừng nửa mét. Thời xưa, nếu thả quả bưởi xuống giếng, quả bưởi có thể trôi xa ra tận sông Vĩnh Trinh cách miếu khoảng 400 - 500m. Ngày nay, do kiến tạo thay đổi nền đất nên quả bưởi chỉ còn trôi xa độ 30 - 40m, ra hồ ngay trước cửa miếu.

Tại cung Nhất, không giống các pho tượng khác, pho tượng Linh Lang Đại Vương cao 1,7m, với nét mặt khôi ngô, có hồn như người thực, đầu đội vương miện, thân khoác áo lụa bào, tay cầm văn tự, được đặt ngồi trên ngai vàng. Điều đặc biệt là mỗi khi vị Thủ từ của miếu mở cửa cung thì ngay lập tức pho tượng có thể đứng lên một cách nhẹ nhàng, sau đó ngồi xuống từ từ và khoan thai. Hình ảnh pho tượng Linh Lang Đại Vương có thể “đứng lên, ngồi xuống” khiến du khách đến lễ, tham quan ai ai cũng phải ngỡ ngàng. Trải qua trên 700 năm, từ thế kỷ XIII đến nay, pho tượng có thể “đứng lên, ngồi xuống” vẫn là sự sáng tạo độc đáo, kỳ lạ và hiếm có. Do đó, người dân địa phương luôn coi pho tượng Linh Lang Đại Vương là báu vật của làng.
Theo người dân địa phương, bí ẩn sự chuyển động “đứng lên, ngồi xuống” của pho tượng nằm ở cánh cửa cung Nhất miếu Bảo Hà. Các nghệ nhân tạc tượng xưa đã khéo léo kết hợp giữa nghệ thuật tạc tượng với múa rối cạn, để tạo ra hệ thống truyền lực kéo đẩy nối giữa cánh cửa với các khớp của tượng. Chính vì thế, khi mở cánh cửa hậu cung sẽ truyền lực nâng pho tượng dần dần đứng lên và đóng cánh cửa lại thì pho tượng sẽ ngồi xuống, trở về tư thế ban đầu. Tuy nhiên, việc đóng, mở cánh cửa để pho tượng đứng lên ngồi xuống thì chỉ có người quản lý miếu mới có thể làm thuần thục.
Tương truyền, người có công sáng lập, truyền dạy nghề cho dân làng Bảo Hà là cụ Nguyễn Công Huệ. Khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, cụ cùng một số thanh niên bị bắt đi phục dịch và đưa sang Quan Xưởng, Đại Minh làm việc. Tại đây, cụ chuyên tâm học nghề chạm khắc, sơn mài và châm cứu. Đến khoảng năm 1443-1459 (đời vua Lê Nhân Tông), cụ Huệ được trở về quê và dạy nghề tạc tượng cho dân làng.
Với những công lao của cụ Huệ, nhân dân địa phương đã suy tôn cụ là “Tổ nghề” tạc tượng và thờ phụng tại miếu Bảo Hà. Trải qua hàng trăm năm, nghề tạc tượng và múa rối vẫn là nghề truyền thống thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc, là điển hình của một làng quê yêu nghệ thuật ở Bảo Hà, TP Hải Phòng.

Với những giá trị hiện hữu, năm 1991, miếu Bảo Hà được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Người dân địa phương quen gọi miếu Bảo Hà là miếu Cả nhằm khẳng định vai trò đứng đầu của ngôi miếu này trong sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng ở đây. Từ bàn tay của những người thợ tài hoa xưa kia đẽo tạc những bức tượng đẹp lưu giữ cho đời sau, miếu Bảo Hà không chỉ là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng nghề mà còn là địa điểm tham quan hấp dẫn trong tuyến du lịch du khảo đồng quê tại Hải Phòng.
Đã thành thông lệ, cứ hai năm một lần, vào ngày Rằm tháng 3 Âm lịch, chính quyền và nhân dân làng địa phương lại long trọng tổ chức Lễ hội Di tích lịch sử văn hóa quốc gia Bảo Hà, thời gian kéo dài khoảng 3 ngày.