Hành trình Hồ Chí Minh - Từ khát vọng độc lập dân tộc đến xây dựng Việt Nam hùng cường:Bài 4: Căn cứ địa Cao Bằng chuẩn bị toàn diện cho tổng khởi nghĩa
Sau Hội nghị Trung ương VIII (5/1941), tại Pác Bó, Cao Bằng, nhiệm vụ chiến lược chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới Tổng khởi nghĩa toàn quốc được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng khẩn trương triển khai.
Từ căn cứ địa cách mạng Cao Bằng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Người, cách mạng Việt Nam đã được chuẩn bị đồng bộ về tư tưởng, tổ chức, xây dựng lực lượng và phương pháp hành động. Chính từ một căn cứ địa miền núi nơi biên cương Tổ quốc, phong trào cách mạng từng bước vươn ra toàn quốc, hội tụ đủ thế và lực để làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – bước ngoặt lịch sử mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.
Công tác cán bộ, huấn luyện, báo chí tuyên truyền: Đặt nền móng tư tưởng cho Tổng khởi nghĩa
Ngay từ khi trở về Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xác định rõ: muốn cách mạng đi đến thắng lợi, trước hết phải xây dựng được đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ bản lĩnh để lãnh đạo phong trào quần chúng.
Người nhận định:“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Chính từ nhận thức đó, công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ ở Cao Bằng được đặt ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.

Trong điều kiện vô cùng khó khăn, hoạt động bí mật, song công tác huấn luyện cán bộ ở Cao Bằng lại được tổ chức bài bản, linh hoạt và sáng tạo. Các lớp huấn luyện được mở phù hợp với từng đối tượng, từng trình độ, từng lứa tuổi, đặc biệt chú trọng lực lượng thanh niên, những người có tinh thần xung kích, dễ tiếp thu cái mới và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nội dung huấn luyện không nặng lý thuyết giáo điều mà gắn chặt với thực tiễn cách mạng, từ những yêu cầu đấu tranh trước mắt đến mục tiêu lâu dài.
Điểm nổi bật, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lên lớp giảng bài, kết hợp hài hòa giữa lý luận - thực tiễn - đạo đức cách mạng. Người không chỉ truyền đạt kiến thức chính trị, quân sự mà còn đặc biệt coi trọng việc rèn luyện phẩm chất cách mạng, lòng trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân, tinh thần kỷ luật, ý chí vượt khó. Chính điều này đã tạo nên một đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đủ sức đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của cách mạng.
Cùng với huấn luyện trực tiếp, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dành nhiều tâm huyết cho công tác tuyên truyền thông qua sách báo, tài liệu. Người viết, biên soạn, dịch thuật nhiều tác phẩm có giá trị lớn đối với phong trào cách mạng như Lịch sử nước ta, Cách đánh du kích, Con đường giải phóng, Việt Minh ngũ tự kinh, Mười điều Việt Minh… Các tài liệu này được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, nhiều tác phẩm viết theo thể văn vần, rất phù hợp với trình độ của đồng bào các dân tộc vùng căn cứ, giúp tư tưởng cách mạng nhanh chóng thấm sâu vào quần chúng.

Đặc biệt, tháng 8/1941, báo Việt Nam Độc lập ra đời do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách đã trở thành một vũ khí tuyên truyền sắc bén của Mặt trận Việt Minh. Nội dung báo tập trung vạch trần tội ác của đế quốc, phong kiến, khơi dậy tinh thần yêu nước, kêu gọi toàn dân đoàn kết đứng lên giành độc lập.
Không chỉ phát hành trong phạm vi Cao Bằng, báo Việt Nam Độc lập còn được bí mật chuyển tới các tỉnh lân cận như Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên…, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các tổ chức cứu quốc, tạo nên mặt trận tư tưởng thống nhất cho Tổng khởi nghĩa sau này.
Xây dựng lực lượng quần chúng và mở con đường “Nam tiến” vươn ra toàn quốc
Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc luôn đặt công tác vận động, tổ chức quần chúng ở vị trí then chốt. Ở Cao Bằng nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống- Người đặc biệt chú trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, coi đây là nguồn sức mạnh quyết định của cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Người, các tổ chức quần chúng cứu quốc lần lượt ra đời và phát triển nhanh chóng. Chỉ trong vòng ba tháng sau khi Người về nước, hàng ngàn người dân thuộc các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông… đã tham gia các đoàn thể Việt Minh. Phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ đã tạo điều kiện cho việc thành lập các Ủy ban Việt Minh ở cấp huyện, thị trấn – tiền thân của chính quyền cách mạng sau này.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám, tháng 8-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo Liên tỉnh ủy Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn gấp rút mở đường Nam tiến nối căn cứ địa Cao Bằng với Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và các tỉnh miền xuôi; nối liền căn cứ địa Cao Bằng với căn cứ du kích Bắc Sơn-Võ Nhai. Đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Thiết Hùng được giao phụ trách Ban xung phong Nam tiến.
Trước yêu cầu kết nối phong trào cách mạng ở căn cứ địa Cao Bằng với phong trào cả nước, tháng 3/1942, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị phải “cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao Bằng vào miền xuôi”. Đây là một quyết định chiến lược, thể hiện tầm nhìn xa và tư duy tổ chức cách mạng hết sức sáng tạo của Người.
Hội nghị Lũng Hoài (xã Hồng Việt, huyện Hòa An) tháng 2/1943 đã bàn và thống nhất việc mở rộng phong trào “Nam tiến”, tạo ra các tuyến liên lạc chiến lược nối liền Cao Bằng với các tỉnh Việt Bắc và miền xuôi. Ba tuyến Nam tiến chủ yếu nhanh chóng được triển khai, vượt qua muôn vàn khó khăn, hiểm nguy, mang theo chủ trương, đường lối của Đảng đến với quần chúng khắp các địa phương.

Chỉ trong thời gian ngắn, 19 đội xung phong Nam tiến đã được tổ chức, góp phần làm cho phong trào cách mạng ở Việt Bắc phát triển mạnh mẽ và gắn kết chặt chẽ với phong trào cả nước. Chính những “con đường quần chúng” này đã tạo nên thế liên hoàn chiến lược, hình thành các khu căn cứ nối tiếp nhau, mở ra triển vọng lớn cho việc ra đời Khu giải phóng và Tổng khởi nghĩa sau này.
Từ Cao Bằng, cách mạng Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng phân tán, cục bộ để phát triển thành một phong trào thống nhất trên phạm vi toàn quốc, sẵn sàng chớp thời cơ lịch sử.
Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng: Chuẩn bị trực tiếp cho khởi nghĩa giành chính quyền
Trước tình hình thế giới và trong nước chuyển biến nhanh chóng theo hướng có lợi cho cách mạng, yêu cầu chuẩn bị lực lượng vũ trang trở nên cấp thiết. Tháng 8/1944, Trung ương Đảng kêu gọi Nhân dân “sắm vũ khí, đuổi thù chung”, không khí khởi nghĩa lan rộng khắp các địa phương, đặc biệt là vùng Cao - Bắc - Lạng.

Trong bối cảnh đó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có chỉ đạo mang tính bước ngoặt về phương thức đấu tranh. Người khẳng định: cách mạng Việt Nam phải chuyển từ đấu tranh chính trị sang kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, nhưng chính trị vẫn giữ vai trò quyết định, quân sự là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị.
Người chỉ đạo đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam, vừa làm nhiệm vụ vũ trang nhưng đồng thời nhiệm vụ chính trị của lực lượng vũ trang cách mạng là: tuyên truyền, giác ngộ quần chúng là nhiệm vụ hàng đầu.
Ngày 22/12/1944, tại rừng Trần Hưng Đạo (Nguyên Bình, Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức ra đời với 34 chiến sĩ, dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên. Dù lực lượng còn nhỏ, trang bị còn hạn chế, nhưng đội quân ấy mang trong mình lý tưởng lớn lao và niềm tin tất thắng.

Chỉ hai ngày sau khi thành lập, Đội đã liên tiếp giành thắng lợi trong các trận Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu truyền thống “bách chiến bách thắng” của Quân đội ta. Những chiến thắng này không chỉ có ý nghĩa quân sự mà còn có tác động chính trị, tinh thần to lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trong cả nước.
Từ hạt nhân ban đầu ở Cao Bằng, lực lượng vũ trang cách mạng nhanh chóng phát triển thành Việt Nam Giải phóng quân, trở thành nòng cốt cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, và sau này xây dựng phát triển thành Quân đội nhân dân Việt Nam - đội quân từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu.
Giai đoạn cách mạng 1941–1945, tại căn cứ địa cách mạng Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp lãnh chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân chuẩn bị toàn diện cho Tổng khởi nghĩa.
Từ công tác cán bộ, xây dựng lực lượng quần chúng, phát triển báo chí tuyên truyền đường lối cách mạng, xoá mù chữ, mở các tuyến Nam tiến, đến xây dựng lực lượng vũ trang… tất cả đều được triển khai đồng bộ, khoa học và sáng tạo.
Khẳng định đường lối khoa học, phương pháp tổ chức cách mạng của Người xuyên suốt từ Pác Bó - Cao Bằng đến mùa thu độc lập năm 1945: một chiến lược đúng đắn, một sự chuẩn bị toàn diện và một niềm tin vững chắc vào Nhân dân chính là chìa khóa làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam.