Chính trị

Đại biểu Quốc hội lo ngại khoáng sản có giá trị kinh tế cao sẽ mất đi mãi mãi

Đ. Việt - M. Đỉnh 01/12/2025 - 14:15

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hoàng Bảo Trân (Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh) cho rằng tài nguyên là tài sản hữu hạn phải được bảo vệ trong tương lai và chỉ khai thác khi thực sự cần thiết.

Ngày 1/12, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 10, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Thiếu lộ trình giảm phụ thuộc vào khai thác khoáng sản

Theo đại biểu Nguyễn Hoàng Bảo Trân (Đoàn ĐBQH TP.HCM) trong dự thảo luật chỉ tập trung quy định về hoàn thiện quản lý tốt hơn để khai thác mà chưa có một chương hay mục riêng về đánh giá tác động của phương án giảm dần khai thác và lộ trình nghiên cứu phát triển vật liệu thay thế nhằm thực hiện các cam kết quốc tế về môi trường đặc biệt là mục tiêu “Net Zero” vào năm 2050.

nguyen-bao-tran.jpg
Đại biểu Nguyễn Hoàng Bảo Trân (Đoàn ĐBQH TP. HCM)

Đại biểu Trân cho biết, trong nhiều năm qua quan điểm chung đối với khoáng sản tài nguyên là nguồn lực cho phát triển. Tư duy này không sai nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu thiên tai vừa qua và nguồn tài nguyên cạn kiệt như hiện nay, một cách tiếp cận mới cần được đặt ra tài nguyên là tài sản hữu hạn phải được bảo vệ trong tương lai, chỉ khai thác khi thực sự cần thiết.

Trong khi đó, dự thảo luật chủ yếu tập trung hoàn thiện quy trình cấp phép khai thác, quy định trách nhiệm doanh nghiệp, phân chia nguồn thu, tăng giám sát, xử lý vi phạm. Khẳng định đây là nội dung rất quan trọng song nữ đại biểu cho rằng còn thiếu 2 trụ cột.

Cụ thể, thiếu quy định đánh giá tổng hợp tác động đa chiều của khai thác khoáng sản mà hiện nay nhiều địa phương đang đối mặt với sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển do khai thác cát và đất san lấp quá mức; do khai thác đá, khai thác đất phá vỡ cấu trúc bề mặt, ô nhiễm nước ngầm, ô nhiễm bụi mịn và tiếng ồn từ khai thác khoáng sản.

“Điều đó khiến hệ sinh thái bị chia cắt, đa dạng sinh học suy giảm. Nhiều hệ quả môi trường – xã hội đã xảy ra, với chi phí khắc phục thậm chí lớn hơn rất nhiều so với nguồn thu từ khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, trong dự thảo, nội dung đánh giá tác động theo vùng, liên vùng và dài hạn vẫn còn rất mờ nhạt”, nữ đại biểu thẳng thắn nêu rõ.

Mặt khác, dự thảo vẫn thiếu quy định về lộ trình giảm phụ thuộc vào khai thác khoáng sản - nguồn tài nguyên không tái tạo. Nữ đại biểu bày tỏ lo ngại, nếu không có kế hoạch giảm dần khai thác và thay thế nguyên liệu đầu vào, chỉ vài thập kỷ nữa nhiều con sông có nguy cơ cạn kiệt, kéo theo hệ lụy nghiêm trọng đối với an ninh nguồn nước. Đá xây dựng, vật liệu san lấp ở nhiều khu vực sẽ trở nên khan hiếm, thậm chí một số loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao có thể bị khai thác đến mức biến mất hoàn toàn.

Cho rằng dự thảo chỉ mới dừng lại ở việc tăng hiệu quả khai thác chứ chưa quan tâm đúng mức đến giảm nhu cầu khai thác, trong khi các quốc gia đang đi theo hướng giảm khai thác, phát triển vật liệu thay thế, đại biểu Trân nhấn mạnh: Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ về môi trường nhưng tại dự thảo chưa phản ánh đầy đủ các cam kết này theo hướng giảm mật độ tài nguyên cho phát triển kinh tế; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tái chế, tái sử dụng và bảo tồn tài nguyên chiến lược cho thế hệ tương lai.

Từ những vấn đề nêu trên, nữ đại biểu đề xuất 5 nhóm điều chỉnh theo hướng bổ sung quy định về nguyên tắc giảm khai thác hướng tới “Net Zero” trong đó giảm cường độ khai thác khoáng sản có rủi ro môi trường, ưu tiên sử dụng vật liệu thay thế, từng bước chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn

Cạnh đó, sửa quy định về cấp phép khai thác yêu cầu bắt buộc phải có đánh giá tác động tích lũy, đánh giá rủi ro địa chất, thủy văn, cam kết phục hồi môi trường dài hạn theo chuẩn quốc tế.

Ngoài ra, quy định về vùng địa chất nhạy cảm, danh mục cho Chính phủ công bố nghiêm cấm khai thác dưới mọi hình thức; Quy định trách nhiệm phục hồi sau khai thác. Doanh nghiệp phải phục hồi địa hình trồng rừng, tái tạo cảnh quan, nếu không hoàn thành thì không được cấp phép cho dự án khác.

Cuối cùng bổ sung quy định về chính sách khuyến khích vật liệu thay thế, ưu đãi thuế cho nghiên cứu vật liệu xanh, ưu tiên vật liệu tái chế trong đầu tư công. Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi dây chuyền sản xuất.

“Chúng ta là thế hệ đang quyết định hình thái tài nguyên còn lại cho con cháu, nếu luật hôm nay chỉ tập trung quản lý tốt hơn để khai thác nhiều hơn thì chúng ta có thể giải quyết nhu cầu vài năm nhưng lại đánh đổi tương lai dài hạn” nữ đại biểu nói và đề nghị quốc hội xem xét bổ sung đánh giá tác động tổng hợp, quy định rõ lộ trình giảm khai thác, tích hợp chiến lược vật liệu thay thế và đưa tư duy phát triển xanh toàn cầu.

Đề nghị bổ sung rõ cơ chế kiểm soát xuất khẩu

Góp ý vào điều 75 dự thảo luật, quy định tổ chức cá nhân xem xét cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản Đại biểu Nguyễn Thị Lan Anh, (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) cho biết, qua nghiên cứu và theo dõi tại các địa phương, nhất là các khu vực có nhiều dự án thủy điện đại biểu Lan Anh nhận thấy quy định này vẫn còn đang bộc lộ một số hạn chế khó khăn.

dai-bieu-nguyen-thi-lan-anh.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Lan Anh, (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai)

Dẫn chứng cụ thể, bà cho biết, thực tiễn, hiện nay cát sỏi là vật liệu xây dựng thông thường và có nhu cầu rất lớn, vật liệu này đang nằm trong các lòng hồ thủy điện, nơi các thủy điện đã đi vào vận hành, đặc biệt là tại các lòng thủy điện liền kề. Tuy nhiên việc áp dụng quy định về nạo vét kết hợp với thu hồi khoáng sản đang gặp những rào cản, hành chính và pháp lý.

Theo đó, dự thảo luật vẫn chưa làm rõ việc nhà đầu tư hoặc đơn vị khác (ngoài chủ đầu tư thủy điện) có nhu cầu nạo vét, thu hồi sản phẩm thì có được phép tham gia góp vốn hay đầu tư độc lập hay không.

Ngoài ra, thiếu cơ chế ủy quyền, trường hợp chủ đầu tư thủy điện không trực tiếp nạo vét họ có được ủy quyền cho đơn vị khác thực hiện các thủ tục hành chính để đăng ký thủ tục thu hồi khoáng sản hay không?

“Việc thiếu hướng dẫn cụ thể có thể dẫn đến lúng túng trong lập hồ sơ, gây chậm trễ nguồn cung vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm”, đại biểu Nguyễn Thị Lan Anh nêu ý kiến.

Để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy việc khai thác hiệu quả nguồn nguyên liệu đang lắng đọng, và tận dụng nạo vét để đảm bảo an toàn vận hành hồ chứa, nữ đại biểu kiến nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc bổ sung quy định hướng mang tính nguyên tắc trong dự thảo luật.

Cụ thể, giao nhiệm vụ cụ thể rõ ràng hơn cho Chính phủ trong việc ban hành nghị định hướng dẫn nhằm giải quyết các vướng mắc về cơ chế lựa chọn, chủ thể thực hiện như: đấu thầu, chỉ định nhà đầu tư, cơ chế ủy quyền giữa chủ đầu tư thủy điện và đơn vị nạo vét và trình tự thủ tục lập, phê duyệt dự án nhằm đảm bảo tính khả thi. Theo đại biểu, việc hoàn thiện các nội dung này sẽ giúp quy định đi vào cuộc sống một cách đồng bộ hiệu quả, nhằm khai thác được nguồn vật liệu quý giá phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Quan tâm đến vấn đề đất hiếm, Đại biểu Nguyễn Tâm Hùng (Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh) đồng tình với hướng tiếp cận trong dự thảo luật nhưng đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung rõ cơ chế kiểm soát xuất khẩu và tỷ lệ chế biến sâu tối thiểu trong nước nhằm bảo đảm đất hiếm thực sự là tài nguyên chiến lược phục vụ phát triển công nghiệp quốc gia, tránh nguy cơ xuất khẩu thô và lệ thuộc công nghệ nước ngoài.

Liên quan quy định cho phép khai thác khoáng sản nhóm 3 và nhóm 4 trong tình huống khẩn cấp mà không cần thủ tục cấp phép, đại biểu Hùng bày tỏ sự đồng thuận. Tuy nhiên, ông đề nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ tiêu chí xác định trường hợp khẩn cấp, đồng thời bổ sung cơ chế hậu kiểm bắt buộc về sản lượng, thời điểm, khu vực và mục đích khai thác. Điều này nhằm tránh lạm dụng, hạn chế thất thoát tài nguyên và bảo đảm tính công khai, minh bạch trong thực thi.

Về phân cấp thẩm quyền khoanh định khu vực trong hoạt động khoáng sản, dự thảo luật giao cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt và điều chỉnh khu vực không hoạt động khoáng sản. Đồng tình với quan điểm phân cấp, tuy nhiên, đại biểu Hùng cũng đề nghị cần bổ sung nguyên tắc bắt buộc tham vấn Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước khi quyết định, để tránh tình trạng mỗi nơi mỗi khác gây đứt gãy quy hoạch tài nguyên, ảnh hưởng đến chiến lược phát triển công nghiệp và năng lượng của quốc gia.

Đ. Việt - M. Đỉnh