Dòng họ trấn giữ biên cương
Nhắc đến các dòng tộc thổ ty ở Lạng Sơn, không thể không kể đến họ Vi ở Bản Chu (xã Khuất Xá). Dòng họ này có nhiều đời kế tiếp nhau trấn giữ biên ải xứ Lạng, góp phần bảo vệ bờ cõi. Trong đó, Thọ quận công, Vũ quận công, Lại quận công và Khuê quận công là bốn trong mười quận công từng giữ chức Trưởng, cai quản vùng từ tỉnh đến sông Bồ Đề, uy trấn biên thùy, lừng danh một thời.

Rời quê xây dựng cơ đồ
Theo Gia phả của dòng họ Vi (Bản Chu, xã Khuất Xá, tỉnh Lạng Sơn) có ghi chép, Thủy tổ của dòng họ là cụ Vi Kim Thăng tự Đình Mật, quê quán xã Vạn Phần, tổng Vạn Phần, huyện Đông Thành (huyện Diễn Châu cũ), tỉnh Nghệ An. Ông làm quan cho triều đại nhà Trần, đến khi Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần thì ông rời bỏ quan trường để về quê sống ẩn dật.
Tuy rằng về làm bạn với ruộng vườn, nhưng nỗi lòng vẫn “đau đáu” hướng về thế sự khi đất nước bị xâm lăng. Vào năm 1418, khi Lê Thái Tổ (vua Lê Lợi) phát động cuộc khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa) để đánh đuổi giặc Minh sang xâm lược nước ta, Vi Kim Thăng đã cùng với con trai là Vi Phúc Hân quyết định đi theo để đánh đuổi quân giặc. Tại trận chiến ở Ải Chi Lăng (Lạng Sơn), toàn quân đại thắng khi giết được tướng nhà Minh là Liễu Thăng.
Sau khi đánh đuổi được giặc Minh, Vi Kim Thăng được Vua Lê Thái Tổ phong làm Thảo Lộ Tướng Quân, Tả Đô Đốc, Mật quận công. Con trai ông là Vi Phúc Hân được phong làm Đô Đốc Đồng Tri, Hoàn quận công. Từ đây, họ Vi cùng các vị thuộc họ Hoàng Đức, Nguyễn Công, Nguyễn Khắc, Hà Văn, Nông Ngọc được phân định chia ra trấn giữ các xứ Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên..., truyền đời là phiên thần thế tập (Thổ ty) trấn thủ biên thùy phương Bắc.

Cắt cử nhau gìn giữ bình yên xứ Lạng
Nói về dòng họ Vi ở Bản Chu (xã Khuất Xá, tỉnh Lạng Sơn), theo gia phả của dòng họ có ghi chép lại rằng, sau khi cùng cha là Vi Kim Thăng được Vua Lê Thái Tổ giao lên trấn giữ phía Bắc, Hoàn quận công Vi Phúc Hân được trấn thủ xứ Quảng Yên và cho lấy châu Lộc Bình làm quê quán, đời đời làm phiên thần.
Ông Vi Phúc Hân sinh được người 5 con trai, trong đó, con trưởng là Thế Thân, thứ hai là Thế Huệ chia nhau cai quản châu Lộc Bình. Người con thứ ba là Thế Kỳ ở châu Yên Bảo, thứ tư là Thế Tăng ở châu Ôn (nay là Chi Lăng), thứ năm là Thế Trạch cai quản ở Bình Tây. Năm người đều được phong làm Kinh lược sứ, tước hầu. Từ đó dòng họ Vi làm phiên thần thế tập và đã tồn tại nhiều thế hệ tại Lộc Bình, Lạng Sơn.
Tiếp theo, tới đời Cân Đường Hầu Vi Phúc Đường (là hậu duệ đời thứ tư của Mật quận công Vi Kim Thăng, con trưởng của Vi Thế Thân) cùng con là Vi Đức Độ và cháu Vi Đức Quảng đã có công lớn trong việc khôi phục Nhà Lê, nên được phong làm Bắc Phương Kinh Lược Đô Chỉ Huy Sứ, được lập ấp ở thôn Lộc Mã (tổng Khuất Xá, châu Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn). Trở thành Tiên tổ đời thứ nhất của chi họ Vi ở Bản Chu (xã Khuất Xá, tỉnh Lạng Sơn) từ đây.
Đến đời kế tiếp là ông Vi Đức Tự (con ông Vi Đức Quảng) thì có ghi chép rằng, vào năm 1593 đến 1625, ông đánh đuổi được nhà Mạc ra khỏi Lạng Sơn nên được Vua Lê Trung Hưng cho làm Tam đô ty để quản binh chống lại nhà Mạc, phong Thọ quận công. Cho tới sau này, người con cả của Thọ quận công là Vi Đức Khánh cũng làm Tam ty trưởng, được phong Lại quận công và truyền đến đời cháu là Vi Đức Thắng thì tước vị ngày càng cao hơn, ông làm đến chức Đô tổng binh sứ ty, Đô tổng binh sứ, Bắc quân Đô đốc Thiêm sự, được phong tước Vũ quận công, là vị Quan cao nhất trông coi xứ Lạng, đã từng phụng mệnh đi khắp xứ Bắc quốc.

Kế nghiệp cha ông để lại, Vũ quận công Vi Đức Thắng (1634 -1688) là hậu duệ đời thứ 6 của Cân Đường Hầu Vi Phúc Đường. Ông được Chúa Trịnh Tạc phong chức Đô Tổng binh sứ, Đô đốc Thiêm sự, Tước Vũ quận công, là vị quan cao nhất trông coi xứ Lạng thời đó, được giao toàn quyền phân xử mọi việc ở xứ Lạng, kể cả việc giao hiếu với Trung Quốc. Ông cùng hai Phó Tướng là Nguyễn Đình Lộc và Thân Công Tài giữ yên biên giới, chú trọng nông nghiệp, phát triển thương mại.
Thời đó, với sự ủng hộ của ông, Hán quận công Thân Công Tài mở ra phố chợ Kỳ Lừa, phát triển thành trung tâm buôn bán phồn thịnh, giúp 7 châu xứ Lạng trao đổi thông thương hàng hóa qua biên giới với Trung Hoa.
Sau này, tới đời hậu duệ thứ 12 là cụ Vi Văn Lý (1830-1905) cũng lập được nhiều chiến công, trong suốt 40 năm binh nghiệp đánh giặc ngoại xâm để giữ bình an vùng đất biên cương của Tổ quốc, được làm đến Hiệp biện Đại học sĩ, Tổng đốc lãnh Tuần phủ Lạng Sơn và Cao Bằng, phong tước Tràng Phái Nam.

Vị Tổng đốc với tấm lòng cách mạng
Trong những thế hệ của họ Vi tại Bản Chu (xã Khuất Xá, tỉnh Lạng Sơn), Tổng đốc Vi Văn Định (1880 - 1975) là đời thứ 13 kể từ khi cụ tổ lên đây lập ấp. Ông thay cha đảm trách việc quan, trấn ải một vùng rộng lớn khu vực biên giới phía Bắc.
Từ sức ảnh hưởng to lớn ở biên ải Lạng Sơn và năng lực của bản thân, ông Vi Văn Định lần lượt được làm quan đầu tỉnh từ Lạng Sơn, Cao Bằng cho đến Phúc Yên, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Đông. Ông được Vua thăng hàm Thái tử Thiếu Bảo và phong tước An Phước Nam.
Những vùng đất ông cai quản, đời sống của người dân địa phương luôn được cải thiện. Ông lo lắng, đôn đốc việc đắp đê, đào kênh, vớt bèo Nhật Bản, tăng vụ lúa, trấn áp trộm cướp… Tới năm 1942, Tổng đốc Vi Văn Định đã rời chốn quan trường, trở về quê hương ở Bản Chu để nghỉ ngơi.
Đến năm 1946, trước khi sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị ông Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, phải cho người lên Lạng Sơn mời cho được ông Vi Văn Định về Hà Nội. Nếu không, e là bọn Pháp sẽ âm mưu lôi kéo ông.
Đúng như dự liệu của Hồ Chủ tịch, sau Cách mạng Tháng Tám, nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết các dân tộc của Người, thực dân Pháp đã định mời Vi Văn Định rồi con trai ông, ông Vi Văn Kỳ ra làm vua xứ Nùng tự trị do chúng lập ra ở biên giới phía Bắc. Nhưng vì hiểu rõ dã tâm của Pháp, cha con ông Định đã kiên quyết từ chối.
Vào tháng 7 năm 1946, để không bị bọn Pháp lôi kéo, ông Ba Ngọ đã lên Lạng Sơn gặp ông Vi Văn Định, lần này ông đã nhận lời mời của Bác Hồ để về Thủ đô, chính thức đi theo chính quyền cách mạng từ đây.

Những năm kháng chiến chống Pháp, ông Vi Văn Định cùng con cháu, gồm các ông Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên và Tôn Thất Tùng lên chiến khu Việt Bắc. Sau khi lên chiến khu, ông Định luôn được sống trong ATK gần Bác.
Năm 1949, chính Bác đã đặt tên cho con gái út của ông là Hạ Yên, để kỷ niệm những ngày kháng chiến gian khổ cùng ở xã Hạ Yên, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Năm 1951, trong Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt diễn ra tại Chiêm Hóa, ông Định được bầu làm Ủy viên Trung ương Mặt trận Liên Việt (tức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay). Tới năm 1975, ông Vi Văn Định qua đời, thọ 96 tuổi.
Có thể nói, dòng họ Vi, kể từ khi vượt dặm dài thiên lý từ Nghệ An lên xứ Lạng, vẫn luôn là bậc tôi trung, dù trong bất cứ hoàn cảnh, triều đại lịch sử nào. Điều đáng trân trọng hơn nữa là tinh thần ấy được truyền lại cho con cháu trong gia tộc, từ đời này qua đời khác nối tiếp nhau, giữ vững lời thề trung nghĩa với non sông đất nước. Có lẽ, hào khí bất khuất nơi biên viễn của dòng họ Vi sẽ mãi được hậu thế khắc ghi, như một bản hùng ca bất diệt giữa đại ngàn lịch sử.