Đời sống

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: 70 năm xây dựng và phát triển

PV 30/11/2023 9:54

Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, phóng viên đã có buổi trò chuyện với TS. Phan Chí Hiếu, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

bvcl.1cdn.vn-2023-03-14-_phan-chi-hieu-.jpg
TS. Phan Chí Hiếu, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

PV: Ông đánh giá như thế nào về những thành tựu nổi bật trong suốt chặng đường 70 năm xây dựng và phát triển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam?

TS. Phan Chí Hiếu: Cách đây vừa tròn 70 năm, ngày 02/12/1953, Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học (tổ chức tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ngày nay) được thành lập trên mảnh đất Tân Trào lịch sử theo Nghị quyết số 34-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Đây là tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trải qua 70 năm xây dựng và phát triển, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) đã trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật như sau:

Thứ nhất, chức năng, nhiệm vụ ngày càng được mở rộng, tăng cường; cơ cấu tổ chức được kiện toàn; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lớn mạnh vượt bậc cả về số lượng và chất lượng.

Từ nhiệm vụ được giao trong ngày đầu thành lập là sưu tầm và nghiên cứu những tài liệu về lịch sử, địa lý và văn hóa Việt Nam; biên soạn những tài liệu về sử học, địa lý và văn học Việt Nam; nghiên cứu và giới thiệu lịch sử, địa lý và văn học các nước bạn, đến nay Viện Hàn lâm có chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khoa học xã hội; cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển; tư vấn về chính sách phát triển trong lĩnh vực khoa học xã hội; đào tạo nhân lực có trình độ cao về khoa học xã hội với 14 nhóm nhiệm vụ lớn, trong đó nhiệm vụ nghiên cứu khoa học bao phủ toàn bộ các lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn.

Cơ cấu tổ chức từ 03 tổ nghiên cứu văn học, lịch sử, địa lý, ngày nay Viện Hàn lâm đã phát triển thành 42 đơn vị thuộc và trực thuộc, với 32 đơn vị nghiên cứu, 01 đơn vị đào tạo; Viện Hàn lâm và các đơn vị nghiên cứu có 31 tạp chí khoa học, trong đó có 12 tạp chí khoa học được xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Anh và 01 Tạp chí điện tử.

Từ 14 cán bộ, nhân viên khi thành lập, đến nay Viện Hàn lâm có 1.638 cán bộ, trong đó có 444 cán bộ có trình độ tiến sĩ. Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ của Viện Hàn lâm, đội ngũ cán bộ nghiên cứu này đang tham gia rất tích cực, hiệu quả vào các hoạt động nghiên cứu, đào tạo của nhiều cơ quan, đơn vị khác trong phạm vi toàn quốc.

Thứ hai, Viện Hàn lâm và các nhà nghiên cứu của Viện Hàn lâm đã đạt được nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học với hàng vạn bài báo khoa học công bố trên các tạp chí khoa học và hơn 7 ngàn đầu sách xuất bản trong nước và quốc tế.

Đặc biệt, có 21 nhà khoa học của Viện Hàn lâm có công trình, cụm công trình được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; 28 nhà khoa học có công trình, cụm công trình được trao tặng Giải thưởng Nhà nước - là những giải thưởng quan trọng nhất trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Các kết quả nghiên cứu đã góp phần quan trọng trọng phát triển các lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn.

Thứ ba, các nghiên cứu của Viện Hàn lâm đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học và thực tiễn có giá trị cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước; cung cấp những luận cứ khoa học cho đường lối đổi mới toàn diện đất nước dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào sự hình thành những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; về xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh…

Bên cạnh đó, những nghiên cứu về chính trị, pháp luật, xã hội, môi trường, về cục diện thế giới, về toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,… đều có những bước đi tiên phong, có những đóng góp được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận.

Thứ tư, một thành tựu nổi bật khác của Viện Hàn lâm là công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về các ngành khoa học xã hội và nhân văn cho đất nước, với quá trình hơn 40 năm đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ. Trước khi thành lập Học viện Khoa học xã hội, nhiều viện nghiên cứu của Viện Hàn lâm được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học, trong đó nhiều viện là nơi đào tạo sau đại học đầu tiên của đất nước.

Nhiều cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng bởi các viện nghiên cứu chuyên ngành và Học viện Khoa học xã hội đã góp phần định hình và phát triển nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta.

Nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo từ Viện Hàn lâm trong những năm qua đã gia nhập vào đội ngũ cán bộ khoa học xã hội nhân văn đông đảo, giỏi chuyên môn, có phẩm chất đạo đức hoạt động trong khắp các lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, chính trị, quản lý, hành chính trong cả nước, góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội về nguồn nhân lực khoa học xã hội hiện nay.

Thứ năm, Viện Hàn lâm đã phát triển quan hệ hợp tác nghiên cứu, tư vấn triển khai và tổ chức diễn đàn với nhiều Bộ, Ban, Ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương; quan hệ hợp tác khoa học, trao đổi học thuật và đào tạo nhân lực với hàng trăm các tổ chức, quỹ khoa học uy tín, trường đại học lớn trên thế giới.

Nhiều diễn đàn, hội thảo quốc tế do Viện Hàn lâm phối hợp với các tổ chức kinh tế, văn hóa, khoa học lớn đồng tổ chức trong những năm qua đã tạo được tiếng vang, sức lan tỏa về khoa học trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mang tính khu vực và toàn cầu, góp phần tích cực trong quá trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Có thể nói, trong suốt 70 năm qua, với sự cống hiến không mệt mỏi của các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, viên chức, người lao động, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo dựng được vị thế là một trung tâm khoa học xã hội hàng đầu của đất nước; đặt những nền tảng quan trọng, thúc đẩy sự phát triển nền khoa học xã hội và nhân văn của nước nhà, có những đóng góp đáng kể vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

PV: Nhằm phát triển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, xin ông cho biết Viện đang tập trung vào các mục tiêu cơ bản nào?

TS. Phan Chí Hiếu: Ngay từ đầu năm 2023, Viện Hàn lâm đã chủ động xây dựng Đề án Chiến lược phát triển Viện Hàn lâm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để trình Thủ tướng xem xét, thông qua trong năm 2023, nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Ngày 24/11/2023, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới đã xác định nhiệm vụ tập trung xây dựng cơ chế, chính sách đột phá và nguồn lực để phát triển hai Đại học Quốc gia và hai Viện Hàn lâm Khoa học thành các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trọng điểm, ngang tầm các nước tiên tiến và giao nhiệm vụ cho Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo xây dựng các Đề án tăng cường năng lực cho hai Đại học Quốc gia và hai Viện Hàn lâm Khoa học.

Do vậy, Viện Hàn lâm chưa trình đề án Chiến lược mà tập trung xây dựng Đề án tăng cường năng lực để phát triển Viện Hàn lâm thành cơ sở nghiên cứu trọng điểm về khoa học xã hội ngang tầm các nước tiên tiến trên thế giới.

Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, Viện Hàn lâm xác định mục tiêu tổng quát: Phát triển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trở thành trung tâm nghiên cứu trọng điểm về khoa học xã hội và nhân văn, ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, là cơ quan nghiên cứu lý luận và tham mưu chiến lược, tư vấn chính sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước, cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cơ sở đào tạo đại học và sau đại học đạt trình độ tiên tiến tại khu vực và trên thế giới, góp phần quan trọng vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học xã hội cho đất nước.

ts-phan-chi-hieu-28-11.jpg

Với mục tiêu tổng quát nêu trên, Viện Hàn lâm xác định một số mục tiêu cụ thể, trong đó có hai mục tiêu xuyên suốt là:

Nâng cao toàn diện chất lượng nghiên cứu khoa học cơ bản, với các chương trình, đề án nghiên cứu lớn, quan trọng; tạo chuyển biến mạnh trong chất lượng các sản phẩm khoa học như các đề tài, dự án nghiên cứu, các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn khoa học, các ấn phẩm, tạp chí chuyên ngành, từng bước tiệm cận và tiến tới đạt chuẩn mực quốc tế;

Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu để cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cho Đảng và Nhà nước; thực hiện các khảo sát chuyên sâu, công bố các báo cáo nghiên cứu có giá trị khoa học lớn, các đánh giá, dự báo tình hình có giá trị thực tiễn và định hướng chính sách cao; tích cực tham gia tổng kết quá trình Đổi mới của đất nước, nghiên cứu các lý thuyết, mô hình, kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế giới, góp phần giải quyết hiệu quả các mối quan hệ lớn đặt ra trong quá trình Đổi mới; cung cấp luận cứ cho việc xây dựng chiến lược, lộ trình, bước đi cho Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045;

Tạo chuyển biến căn bản, toàn diện công tác đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học trình độ cao trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cho đất nước; gắn kết chặt chẽ hoạt động đào tạo với nghiên cứu khoa học để phát huy thế mạnh của Viện Hàn lâm trong nghiên cứu khoa học, hướng tới mục tiêu và góp phần hình thành giới nghiên cứu tinh hoa của đất nước trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

PV: Là một cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội đầu ngành của cả nước, để đáp ứng những nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, Viện đang thực hiện những giải pháp gì để tháo gỡ khó khăn, thách thức trong những năm tới, thưa ông?

TS. Phan Chí Hiếu: Để đạt được mục tiêu nêu trên, Viện Hàn lâm sẽ tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

Một là, đổi mới căn bản, toàn diện, đồng bộ hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý của Viện Hàn lâm theo hướng hiện đại; đảm bảo cơ cấu tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng việc thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhất là các lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm, thuộc thế mạnh của Viện Hàn lâm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển phổ quát trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới.

Hai là, ban hành, tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam với định hướng tập trung xây dựng đội ngũ các nhà nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao, phương pháp nghiên cứu tiên tiến, đặc biệt là đội ngũ các chuyên gia đầu ngành có khả năng định hướng, dẫn dắt các hoạt động nghiên cứu lớn, mới, phức tạp về khoa học; quan tâm, tạo điều kiện phát triển các nhà khoa học trẻ để xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, quản lý khoa học kế cận.

Có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu đi tu nghiệp, đào tạo, trao đổi học thuật tại các trung tâm khoa học danh tiếng trên thế giới; thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và trong nước có uy tín tham gia mạng lưới cộng tác viên của Viện Hàn lâm.

Xây dựng một số nhóm nghiên cứu mạnh đa ngành và liên ngành có năng lực phân tích và dự báo mạnh, khả năng tư vấn chính sách và hội nhập quốc tế cao để thực hiện các nhiệm vụ đột xuất, các báo cáo tư vấn chính sách, đấu thầu các dự án nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trên cơ sở lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đề bạt những người có trình độ chuyên môn, uy tín khoa học, có tầm nhìn, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, đồng thời phải có bản lĩnh chính trị vững chắc, năng lực xử lý các mối quan hệ công tác.

Ba là, tạo môi trường làm việc dân chủ, đoàn kết, nghĩa tình, môi trường học thuật liêm chính, tôn trọng tự do học thuật; đánh giá khách quan, công bằng để ghi nhận, tôn vinh, tạo cơ hội phát triển cho những cán bộ có năng lực và có nhiều đóng góp.

Xây dựng, tổ chức các diễn đàn khoa học thường niên và theo chủ đề để trao đổi học thuật, ươm trồng, phát triển các ý tưởng khoa học mới; tích cực tham gia tổ chức các diễn đàn khoa học chuyên nghiệp để tư vấn, phản biện các cơ chế, chính sách, pháp luật và một số dự án phát triển kinh tế, xã hội lớn theo nhiệm vụ được phân công hoặc theo đặt hàng của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Giải quyết tốt chế độ, chính sách cho viên chức, người lao động; thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng, xử lý vi phạm.

Bốn là, tiếp tục phát triển hoạt động hợp tác về nghiên cứu khoa học, không chỉ với các tổ chức nghiên cứu, đào tạo của nước ngoài, các thiết chế quốc tế mà còn cần tăng cường quan hệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học với các ban, bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương.

Năm là, tập trung đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật, thực hiện chuyển đổi số và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ trong quản lý nội bộ và tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu; kết nối, chia sẻ dữ liệu, kết quả nghiên cứu, hình thành hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện hiện đại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

PV: Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Viện có những đề xuất, kiến nghị gì nhằm đổi mới cơ chế quản lý và chính sách đối với hoạt động khoa học xã hội thời gian tới, thưa ông?

TS. Phan Chí Hiếu: Để giải quyết các vướng mắc và đổi mới chính sách, cơ chế quản lý đối với hoạt động khoa học xã hội thời gian tới, ngày 19/9/2023, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã có Báo cáo số 2002/BC-KHXH rà soát các quy định pháp luật, đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật để tháo gỡ khó khăn vướng mắc, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gửi Thủ tướng Chính phủ.

Báo cáo đã chỉ rõ các vướng mắc, hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật hiện hành về khoa học, công nghệ và các đề xuất, kiến nghị rất cụ thể, từ việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để xây dựng, ban hành một số cơ chế, chính sách mới và thể chế hóa thành pháp luật. Có thể đề cập đến một số đề xuất, kiến nghị sau đây:

Thứ nhất, kiến nghị trong thực hiện chủ trương tinh giản biên chế: Chính sách tinh giản biên chế theo tinh thần của Nghị quyết số 19-NQ/TW là hết sức đúng đắn. Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách này một cách “cơ học” đối với tất cả các cơ quan, đơn vị mà không tính đến một số lĩnh vực đặc thù cần được ưu tiên bố trí biên chế là chưa thực sự phù hợp với thực tiễn.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nòng cốt tạo ra sự phát triển bứt phá, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đội ngũ người làm công tác nghiên cứu khoa học, nhất là trong các tổ chức khoa học công nghệ khu vực công chính là đội ngũ lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm nghiên cứu khoa học.

Việc tinh giản biên chế sẽ trực tiếp làm giảm số lượng nhà khoa học, qua đó ảnh hưởng đến hoạt động khoa học. Chính vì vậy, trong thực hiện chủ trương tinh giản biên chế cần phải tính đến đặc thù của lực lượng lao động này, từ đó có một cơ chế riêng để đội ngũ các nhà khoa học phát triển mạnh mẽ.

Thứ hai, kiến nghị về áp dụng chế độ, chính sách về chế độ tiền lương, phụ cấp, ưu đãi đặc thù và một số điều kiện đảm bảo đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, nhất là người có tài năng. Các nhà khoa học nên được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Nghiên cứu thành lập và sử dụng có hiệu quả “Quỹ nhân tài cho nghiên cứu khoa học” để khuyến khích nhân tài phát triển, cống hiến, sáng tạo, gắn bó, đồng hành cùng tổ chức, đồng thời, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhân tài vì sự nghiệp chung.

Thứ ba, cần rà soát để sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, nhất là Luật Khoa học và công nghệ, Luật Ngân sách nhà nước để tạo cơ chế thông thoáng hơn, tháo gỡ các rào cản về hành chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ví dụ: Cần bổ sung quy định cho phép lập dự phòng trong xây dựng dự toán để có thể thực hiện các nhiệm vụ khoa học đột xuất theo đặt hàng của các cơ quan nhà nước; đổi mới quy trình lập, xét duyệt, giao dự toán theo sản phẩm khoa học “đầu ra” để vừa đảm bảo cho người sử dụng ngân sách quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và chủ động trong việc sử dụng tài chính, vừa tạo thuận lợi cho các cơ quan quản lý tài chính các cấp đồng thời vừa đảm bảo cho người làm về tài chính kế toán giảm khối lượng công việc, quản lý tài chính chặt chẽ, thiết thực và hiệu quả; đổi mới thủ tục thanh quyết toán kinh phí thực hiện, áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm khoa học và công nghệ cuối cùng để giao quyền chủ động tối đa cho các tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong sử dụng kinh phí được giao; chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học để các nhà khoa học mạnh dạn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề mới, khó, phức tạp; sửa đổi các quy định về quản lý, sử dụng tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước cho phù hợp với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, bởi giá trị tài sản là kết quả tri thức được nghiên cứu qua tài liệu, khảo sát trên giấy, khó xác định giá trị tài sản, thương mại hóa kết quả của nhiệm vụ khoa học công nghệ theo cách tiếp cận thị trường.

Bên cạnh đó cần rà soát để sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài cho phù hợp đối với các khoản viện trợ quy mô nhỏ, không thuộc các lĩnh vực nhạy cảm, để mở rộng các cơ hội hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài cho các cơ quan nghiên cứu khoa học…

Thứ tư, kiến nghị xây dựng cơ chế thuận lợi để thực hiện tốt hoạt động nghiên cứu phục vụ tư vấn chính sách, trong đó kiến nghị các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương hữu quan quan tâm đặt hàng các vấn đề cần nghiên cứu để cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật.

Có cơ chế bố trí kinh phí phù hợp cho hoạt động nghiên cứu tư vấn chính sách, trong đó cho phép chi cho các tư vấn chính sách do các tổ chức khoa học công nghệ thực hiện cho các cơ quan Đảng và Nhà nước; cho phép xây dựng dự toán khoản mục chi tư vấn chính sách trong chi hoạt động khoa học công nghệ hàng năm của các tổ chức khoa học công nghệ; xây dựng định mức chi, trình tự và thủ tục chi hoạt động tư vấn chính sách của Viện Hàn lâm.

Tạo điều kiện thuận lợi cho hai Viện Hàn lâm tiếp cận với các cơ sở dữ liệu chính thức của Tổng cục Thống kê và của một số cơ quan hữu quan để phục vụ hoạt động nghiên cứu tư vấn chính sách.

PV