Những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Tòa án - Ngày đăng : 07:58, 25/05/2016

Những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được quy định tại Chương II, có 27 điều (từ Điều 7 đến Điều 33). So với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 quy định mới 5 nguyên tắc cơ bản được đặt trong 5 điều luật.

Nguyên tắc công dân Việt Nam không bị trục xuất, giao nộp cho cơ quan Nhà nước khác: Điều 11 BLTTHS năm 2015, quy định: “Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác”.

Quy định công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác, được xây dựng trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoản 2, Điều 17 nêu: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác”.

Quy định mới này thể hiện quan điểm của Nhà nước ta trước trách nhiệm đối với công dân mang quốc tịch Việt Nam. Nguyên tắc này của BLTTHS năm 2015 được thực hiện trong phạm vi quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự và có hiệu lực đối với mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nguyên tắc suy đoán vô tội: Điều 13 BLTTHS năm 2015, quy định: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Một phiên tòa xét xử lưu động vụ án hình sự  (Ảnh: MH)

Nguyên tắc suy đoán vô tội là quy định mới được nhà làm luật đưa vào BLTTHS là quy định tiến bộ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và quyền con người ngày càng được chú trọng bảo vệ.

Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm: Điều 14, BLTTHS năm 2015, quy định: “Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm”. Nội dung điều luật cấm Cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố họ với tư cách là bị can khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật; cấm Cơ quan điều tra tiến hành áp dụng các biện pháp điều tra đối với họ khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật; cấm Viện kiểm sát quyết định truy tố họ ra trước Tòa án để xét xử khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật; cấm Tòa án xét xử tuyên bố họ phạm tội khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.

Pháp luật quy định nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội đảm bảo chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta là một hành vi gây nguy hiểm  cho xã hội thì chỉ bị xử lý một lần. BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc này góp phần tích cực trong việc phòng chống oan sai, hạn chế việc cơ quan tiến hành tố tụng quy kết người không phạm tội; đồng thời kế thừa phát huy mặt tích cực của BLTTHS năm 2003 quy định tại khoản 4 Điều 107, những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự: “Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án có hiệu lực pháp luật”.

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm: Điều 26, BLTTHS năm 2015 quy định: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.

 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm khi những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải được bình đẳng trước pháp luật, khi đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan vụ án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho việc tranh tụng và phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để ra bản án, quyết định.

 Nguyên tắc kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự: Điều 33, BLTTHS quy định: “Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra việc tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền; thực hiện kiểm soát giữa các cơ quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

 Cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Nếu phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật”.

Kiểm tra trong hoạt động tố tụng thuộc trách nhiệm của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra việc tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền để ngăn ngừa và khắc phục khi có sai phạm; giám sát trong hoạt động tố tụng thuộc trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử và có quyền kiến nghị nếu phát hiện vi phạm.

PV