Báo Công lý
Thứ Sáu, 24/5/2019

Một số vấn đề về áp dụng pháp luật hôn nhân gia đình (Bài 2): Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại

25/4/2013 08:33 UTC+7
(Công lý) - Thường thì khi chia tài sản chung của vợ chồng, người ta hay nghĩ đến chuyện… ly hôn. Tuy nhiên, ngay trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại, vấn đề chia tài sản của vợ chồng cũng rất đáng quan tâm.

Thường thì khi chia tài sản chung của vợ chồng, người ta hay nghĩ đến chuyện… ly hôn. Tuy nhiên, ngay trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại, vấn đề chia tài sản của vợ chồng cũng rất đáng quan tâm.

Nếu căn cứ vào Điều 18 và Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, việc đương sự tự phân chia tài sản hay Toà án phân chia tài sản, khi hôn nhân đang tồn tại và các tài sản khác mới tạo lập sau khi hai người đã sống riêng, đến khi ly hôn các tài sản đó vẫn còn, đều được coi là tài sản chung để chia.

 

Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng, theo Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại trước pháp luật, các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng theo luật định vẫn có ý nghĩa chi phối cả hai bên. Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 không quy định rõ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ các tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân hoặc các tài sản do mỗi bên tạo lập sau khi đã chia tài sản chung là tài sản riêng. Vì lý do đó khi vợ chồng ly hôn các Toà án vẫn coi tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng, đồng thời áp dụng Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 để xét xử.

 

Tuy nhiên, sau khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời thì cần phải có nhận thức mới và hướng giải quyết đã có khác về cơ bản so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.

 

Tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

 

“1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết. 2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.”

 

Một số vấn đề về áp dụng pháp luật hôn nhân gia đình (Bài 2): Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại

Ảnh minh họa

 

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/7/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây gọi tắt là Nghị định số 70) tại Điều 6 quy định về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là:

 

“1. Thoả thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây: a) Lý do chia tài sản; b) Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; c) Phần tài sản còn lại không chia, nếu có; d) Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; đ) Các nội dung khác, nếu có.

2. Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.”

Tại Điều 10 Nghị định số 70 đã quy định về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung như sau:

“1. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.

2. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng, thì hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thoả thuận; nếu văn bản không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.

3. Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.”

Theo quy định tại Điều 29 nêu trên thì chỉ chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong các trường hợp sau: Trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng; Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng; Có lý do chính đáng khác; ví dụ: tuổi đã già, tuy có mâu thuẫn nhưng không muốn ly hôn mà chỉ có yêu cầu chia tài sản chung để ở với một người con nào đó… Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản sẽ không được pháp luật công nhận.

 

Chưa có điều luật nào quy định nguyên tắc chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại. Nhưng có thể hiểu, cũng áp dụng tương tự như trường hợp chia tài sản khi vợ chồng ly hôn.

 

Sau khi chia tài sản chung, quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại. Dù vợ chồng sống chung hay ở riêng không làm hạn chế các quyền nhân thân giữa vợ, chồng. Vợ chồng vẫn phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo luật định. 

Việc chấp nhận cho chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại không phải là chấp nhận cho vợ chồng sống ly thân, nhưng xét về bản chất thì quy định này đã tạo điều kiện cho những trường hợp muốn có cuộc sống độc lập, muốn sống ly thân dễ dàng thực hiện trên thực tế cuộc sống ly thân. 

 

Việc các đương sự tự thỏa thuận phân chia hay yêu cầu Tòa án phân chia phải thuộc một trong các trường hợp được phép chia theo quy định tại Điều 29. Do đó, khi đương sự yêu cầu Tòa án chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại, Thẩm phán phải xem xét yêu cầu đó có lý do chính đáng hay không? Khi có một trong các lý do quy định tại Điều 29 thì mới chấp nhận yêu cầu của đương sự.

 

Khi Toà án cho chia tài sản chung theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 3 Điều 6 của Nghị định số 70, thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định phân chia tài sản chung có hiệu lực pháp luật.

 

Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng, theo quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người. Phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại, vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. (Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình)

+ Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác. (Điều 8 Nghị định 70)

Trường hợp trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng đã chia tài sản chung theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/7/2001 của Chính phủ. Sau khi chia người vợ được  nhận một thửa đất, người chồng cũng được nhận một thửa đất. Sau một thời gian người chồng bán toàn bộ thửa đất và đưa toàn bộ tiền về cùng với vợ xây dựng một nhà bốn tầng trên phần đất mà người vợ được chia trước đây, vợ chồng, con cái về sinh sống tại nhà đất này. Tại thời điểm vợ chồng mâu thuẫn, giá trị phần xây dựng căn nhà chỉ bằng 1/3 so với giá trị đất.

 

Khi vợ chồng ly hôn, người vợ yêu cầu xác định phần diện tích đất là tài sản riêng của người vợ, phần nhà là tài sản riêng của người chồng; người chồng yêu cầu xác định toàn bộ nhà đất là tài sản chung vợ chồng.

 

Cũng tương tự như trên, trong trường hợp nhà đất xây dựng xong, vợ chồng không dùng để ở mà đem cho thuê hoặc khai thác dưới các hình thức kinh doanh khác, tiền thu được từ việc kinh doanh nhà đất này, để chi dùng trong gia đình hoặc toàn bộ số tiền thu được từ việc cho thuê, kinh doanh dùng để mua tài sản mới (có trường hợp bên thuê trả một lần cho 10 năm thuê và vợ chồng dùng số tiền này mua nhà đất mới ngay sau khi nhận được tiền) hoặc các bên góp tiền, tài sản (thường là nhà đất) đã được chia trong thời kỳ hôn nhân để cùng kinh doanh chung v.v… Khi vợ chồng mâu thuẫn một bên khai phần bên nào góp vào vẫn là của riêng người đó, còn bên kia xác định tất cả là tài sản chung.

 

Vậy nhà đất nói trên, tài sản mới hình thành từ số tiền thu được khi cho thuê, tài sản cùng góp vào kinh doanh chung v.v.. xác định là tài sản chung vợ chồng với ý nghĩa là tài sản chung hợp nhất, hay chỉ là tài sản chung theo phần, sở hữu chung theo phần, theo tỷ lệ mỗi bên góp ban đầu, hay vẫn là tài sản riêng của mỗi bên? Nếu tài sản đó chỉ đứng tên một bên vợ hoặc chồng thì xác định là tài sản riêng của bên đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng; giấy tờ mua bán hay xác định là tài sản chung?

 

Các quy định của pháp luật mới chỉ quy định theo chiều xuôi, thuận chiều khi ý chí của các bên được thể hiện rõ ràng, minh bạch trong văn bản thỏa thuận, mà chưa quy định theo các chiều khác của thực tế cuộc sống đang diễn ra, dẫn đến gặp những trường hợp nói trên các Tòa án, Thẩm phán rất lúng túng khi xử lý, thường là ý kiến rất khác nhau. 

Thu Hương - Duy Kiên

 

(Còn nữa)

Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật