Báo Công lý
Thứ Hai, 19/11/2018

Quốc sử di biên & chuyện “cấm quần không đáy”

13/4/2012 11:18 UTC+7
(Công lý) - Thời gian lùi xa, nhiều cứ liệu về văn hóa học cũng bị cuốn theo dòng thời gian, không dễ truy tìm lại được. Do đó, những thông tin được lưu lại trong Quốc sử di biên (QSDB) của Đình nguyên Thám hoa Phan Thúc Trực đã đóng góp cho các nhà văn hóa học nhiều chứng cứ quý giá.

Trong QSDB, chúng tôi thống kê được 50 ghi chép về đời sống văn hóa cung đình và dân gian ở ba triều vua: Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Trong khuôn khổ bài báo, chúng tôi chỉ bàn về một mảng nhỏ, xung quanh sự kiện “Chiếu vua Minh Mạng ban ra; Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng”… được QSDB phản ánh rất thú vị.

Phụ nữ Hà Nội xưa

Khi mới lấy được Bắc Thành, theo QSDB, vào năm 1802, vua Gia Long đã ban hành nhiều chiếu như quy định tố tụng, định lệ cúng tế, việc trưng thu thuế… (QSDB, tr. 82), và ban bố 8 điều để yên lòng dân, trong đó, điều thứ nhất là quy định về trang phục. “Cách ăn mặc quần áo của đàn ông, đàn bà Bắc Hà vẫn theo lối cũ, chưa thể thay đổi thì không nên vì lối y phục khác lạ mà cùng nhau quấy rối, nhũng nhiễu người dân” (QSDB, tr.83).


Về quy định phong tục cho thường dân, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chép: “Minh Mạng năm thứ 7: Nhà nước ta bờ cõi hợp một, văn hóa cùng nhau, há lại nên có việc làm và quy chế khác. Huống chi tỉnh Quảng Bình là nơi gần kinh thành, từ trước đến nay châu Bố Chính thuộc về giới hạt doanh ấy đã lâu, thế mà áo mặc của dân gian vẫn còn khác hẳn, không phải là nghĩa nhất quán cùng một phong hóa, lỗi ở các viên chức không hay sức rõ, nên đến thế, rất là không hợp. Vậy nay doanh thần nên sức cho châu ấy về kiểu chế áo mũ đổi dùng kiểu áo mặc như sĩ dân từ sông Gianh trở vào Nam, để thống nhất thanh giáo mà điều chỉnh phong tục, nếu cứ quen như cũ, không chịu thay đổi, khi phát giác ra sẽ khép vào tội trái quy chế” (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 6, Quyển 69 - Quyển 95, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 215).


Từ quan điểm cần thống nhất về mặt văn hóa ở phương diện trang phục đó, vua Minh Mạng đã xuống chiếu cho đổi trang phục để thống nhất giữa hai miền Nam, Bắc: “Tháng trước, các trấn thần lần lượt xin đổi áo mặc cho sĩ dân, đã từng theo như lời xin. Nay các hạt ở Bắc Thành cũng nên kịp thời sửa đổi lại để cho được đồng nhất. Nhưng thay đổi phong tục là việc mới bắt đầu làm, mà dân gian giàu nghèo không đều, về sự nhu cầu mặc, tất nên rộng hạn cho ngày tháng. Vậy thiết tha xuống lời dụ này: các ngươi đại thần nên sức khắp cho sĩ dân trong hạt: phàm cách thức ăn mặc, đổi theo cách thức như Quảng Bình trở vào Nam, chuẩn cho đến cuối mùa xuân năm Minh Mạng thứ 10, nhất tề sửa đổi lại để nêu ý nghĩa “vâng theo phép vua” (Khâm định, tr. 217).


So sánh với QSDB, ta cũng sẽ thấy các quy định về trang phục xuất hiện khá nhiều lần trong bộ sử của ông với một đôi nét nhấn đặc biệt so với các bộ sử chính thống.


Về mốc thời gian, nếu như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chép việc vua Minh Mạng xuống chiếu cho các hạt của trấn Bắc Thành thay đổi trang phục vào năm Minh Mạng thứ 8 thì QSDB chép đó là vào năm Minh Mạng thứ 9.


Theo QSDB, vào năm 1828 (Minh Mạng thứ 9), vấn đề đổi trang phục của miền Bắc được đặt ra, lần này không phải từ phía chính quyền trung ương mà là từ chính quyền địa phương. QSDB chép: “Tháng 9, phó Tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thúy xin đổi cách mặc quần áo ở Bắc Thành, vua nghe theo. Vua dụ rằng: “Đất nước ta cùng chung bốn biển, phong tục hay, lẽ nào lại để cho có những chỗ sai khác. Tháng trước, các trấn thần ở Thanh Hóa, Nghệ An lần lượt xin đổi quần áo của sĩ dân, nay thể theo khẩn cầu, toàn hạt Bắc Thành cũng được sửa đổi kịp thời, để thống nhất chế độ. Nhưng việc thay đổi phong tục đều phụ thuộc vào cái ban đầu, mà dân chúng giàu nghèo lại khác nhau. Điều cốt yếu của việc biện chế phép tắc là phải xem xét thời điểm, lưu ý đến sự thích đáng đặc biệt lúc này. Nay ta dụ cho các ngươi, xuống lệnh cho khắp các sĩ dân trong hạt, cách thức ăn mặc đều sửa đổi theo các vùng từ Quảng Bình trở vào phía Nam. Chuẩn định vào mùa xuân năm Minh Mạng thứ 10 (1829) nhất loạt sửa đổi để biểu dương cái nghĩa tuân lệnh quân vương. Tháng 10, Nguyễn Trứ mang ống vàng đi khắp toàn hạt, thông báo thay đổi thể chế áo quần, không câu nệ già trẻ trai gái, hạn cho tháng 3 phải sửa đổi, người nghèo thì được hạn cho 6 tháng”. (tr. 330-QSDB)


Qua những ghi chép của Phan Thúc Trực, người đọc có thể biết được, tháng 8 năm 1828, việc đổi trang phục được diễn ra ở Nghệ An, Thanh Hóa, và sau đó một tháng thì việc này được thực thi toàn trấn Bắc Thành với mục đích “để thống nhất chế độ” (tr.330). Vẫn theo lối ghi chép cụ thể đó, QSDB còn chép cụ thể hơn là: “người nghèo thì được gia hạn 6 tháng”.


Tiếp nối mạch chép về việc thay đổi trang phục để thống nhất phong tục trong toàn quốc, sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chép lời dụ của vua Minh Mạng được ban năm Minh Mạng thứ 18 (1837): “Trước kia cho rằng, áo mặc từ sông Gianh trở ra ngoài vẫn thói hủ lậu, đặc biệt cho xuống dụ đổi theo áo mặc như từ Quảng Bình trở vào Nam, để tỏ ra cùng một phong tục, lại cho kỳ hạn rộng rãi để cho thong thả may mặc. Thế mà từ năm Minh Mạng thứ 8 đến nay, đã qua 10 năm, vẫn nghe thấy nông phu và đàn bà thôn quê ở quãng ngoài, có nhiều người cứ theo thói cũ, chưa đổi. Về trách nhiệm thực là ở quan địa phương, xong việc thì quên ngay, không chịu ngày ngày khuyên bảo thêm cho nên đến nỗi thế. Vậy truyền dụ cho đốc, phủ, bố, án, thượng, ty từ Hà Tĩnh trở ra Bắc đều nên dốc lòng khuyên dụ dân hạt, bảo cho biết hiện nay cõi đất hợp làm một, há nên Nam, Bắc phong tục khác nhau, huống chi từ Quảng Bình trở vào Nam đều theo thể chế nhà Hán, nhà Minh, mũ áo, áo quần chỉnh tề như thế, so với người miền Bắc, con trai đóng khố, đàn bà thì trên thì mặc áo giao lĩnh, dưới mặc váy, đẹp xấu chẳng rõ rệt dễ thấy ư? Sao có kẻ đã theo tục tốt, mà có kẻ cũng quen tục cũ lỗi thời chưa đổi, há chẳng là đại ý cố tâm, cố trái, can phạm tội lệ, khiến cho đều nhận biết minh bạch. Vậy hạn cho trong năm nay, cần phải nhất luật thay đổi cả, và khi sang năm mới, nếu vẫn còn theo thói cũ không đổi, tức thì trị tội nặng” (Khâm định, tr. 217).


Cách ghi chép của Khâm định chỉ nêu hai mốc thời gian, từ khi ban bố chỉ dụ “sửa đổi trang phục”, cho đến 10 năm sau, trang phục của người Bắc “vẫn theo lối cũ”. Và cho đến chỉ dụ của năm 1837 này, người đọc mới thấy rõ loại trang phục bị lên án chính là “khố” của đàn ông và “váy” của đàn bà. Hẳn trong 10 năm đó, việc thay đổi trang phục của dân Bắc Hà đã bị phản ứng dữ dội, đến mức đi vào ca dao: “Chiếu vua Minh Mạng ban ra, Cấm quần không đáy người ta hãi hùng. Không đi thì chợ không đông, Đi thì bóc lột quần chồng sao đang” rồi “Có quần ra quán bán hàng, Không quần ra đứng đầu làng trông quan”. Sự phản ứng dữ dội của dân chúng, đương nhiên là không được chép vào các bộ sử chính thống, và thường đi bằng con đường ngắn nhất vào các sáng tác dân gian. Tuy nhiên, với tư cách là một bộ sử tư nhân, QSDB đã bổ sung một số chi tiết ở cái khúc vắng trong các bộ sử chính thống đó.


Thứ nhất, một năm sau việc tâu để xin thay đổi trang phục, QSDB cho người đọc biết việc thực thi chỉ dụ của vua Minh Mạng ở Bắc Thành. Sách này chép, tháng 5-1830 (năm Minh Mạng thứ 11), viên Phó Tổng trấn Bắc Thành là Phan Văn Thúy lại sức các điều về cấm trang phục với quy định cụ thể: “Đàn ông không được đội mũ dài, mũ Thiên bình, mũ Yến vĩ, áo có ống tay rộng, cổ cao, đai lưng, đi tất chân. Phụ nữ không được dùng vải lụa ngắn quấn trên đầu, các dây đai eo lớn nhỏ và quần không đáy” (QSDB, tr. 426). Như vậy là đã rõ về việc đổi “váy” sang “quần” cho phụ nữ, và điều này được ban bố từ năm 1830, nghĩa là trước khi có chỉ dụ chấn chỉnh của vua Minh Mạng 7 năm.


Thứ hai, vào năm 1845 (Thiệu Trị thứ 5), sách QSDB còn chép thêm một sự kiện mà Phan Thúc Trực “lượm nhặt” được trên con đường kinh lí “cầu di thư” của mình: “Đạt (Phan Bá Đạt-Tổng đốc Nam Định) qua Hà Nội, thấy bà vợ viên Phó vệ mặc váy lĩnh hồng, lấy lạ bèn hỏi. Bà ta cậy chồng là người quyền thế liền buông lời ngạo mạn. Đạt ra lệnh chém và tố cáo việc của Phó vệ lên trên. Phó vệ đến xin miễn, vì thế việc cấm mặc váy càng nghiêm ngặt” (QSDB, tr. 540). Như vậy là không phải chỉ sau 10 năm chỉ dụ của Minh Mạng mà mãi tới 18 năm sau, chỉ dụ của vua Minh Mạng vẫn chưa thực sự được người phụ nữ Bắc Hà chấp nhận, họ vẫn gắn bó với chiếc váy truyền thống của mình.

Với tư cách là một thành tố của đời sống văn hóa, chi tiết quý báu mà QSDB chép được cho thấy một thực tế là, văn hóa truyền thống có một sức sống nội tại dai dẳng, bất chấp những can thiệp áp đặt từ phía bên ngoài, dù đó là những mệnh lệnh của nhà vua! Và như vậy, hẳn trong gần 20 năm của quá trình thay đổi trang phục đó, sự phản ứng của người dân Bắc Hà vẫn không dịu đi, và họ đã gửi gắm vào đoạn ca dao trên. Với việc “chụp” được bức ảnh “bà vợ của viên Phó vệ ngạo mạn mặc váy lĩnh hồng và suýt bị chém”, QSDB đã cho người đọc thấy một thực tế lí thú của việc “đi vào đời sống” của các quy định về phong tục dưới triều Nguyễn.

Trần Thị An

congly.com.vn
Bạn đang đọc bài viết Quốc sử di biên & chuyện “cấm quần không đáy” tại chuyên mục Văn hóa - Giải trí của Báo điện tử Công lý. Mọi thông tin chia sẻ, phản hồi xin gửi về hòm thư conglydientu@congly.vn, Hotline 091.2532.315 - 096.1101.678
Tag :

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật