Báo Công lý
Thứ Hai, 01/6/2020

Án lệ và sự áp dụng Kỳ 2: Vấn đề tạo lập và áp dụng án lệ ở nước ta

21/6/2014 08:30 UTC+7
Kể từ khi TANDTC ban hành Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012, phê duyệt đề án “Phát triển án lệ của TANDTC”, Quyết định đã đề cập nhiều vấn đề căn bản cho án lệ như mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, định hướng và các giải pháp…

Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin đóng góp về mặt nguyên lý của án lệ.

Mục đích của án lệ

Theo tinh thần của Quyết định 74 thì ta sẽ áp dụng án lệ theo hệ thống dân luật (HTDL), tức là không bó buộc Thẩm phán phải áp dụng. Trong các hệ thống khác, án lệ có hai mục đích: (i) làm cho luật áp dụng được nhất quán và đáp ứng những tình huống mới mà luật chưa dự liệu; (ii) thúc đẩy các bên tranh chấp dễ dàng chấp nhận bản án của Tòa đã tuyên, vì trước kia Tòa án đã từng quyết định như thế cho người khác. Như bài số trước đã nêu, án lệ là một định chế nằm trong các hệ thống luật mà chúng được bắt đầu từ các tập tục, được điển chế hóa, gốc gác này khác với sự hình thành của luật pháp xã hội chủ nghĩa.    

Luật pháp được quan niệm là để cai trị dân và dân phải chấp hành; tuy nhiên, theo bản chất, luật của ta ưu việt hơn luật pháp của các chế độ chính trị khác.  Vì luật của ta có tính cách mạng, nó thiết lập một trật tự mới. Để làm rõ tính chất này, xin lấy một thí dụ: Luật về quản lý chợ. Ở các hệ thống khác, chợ do dân cư lập ra. Khi nó đã hoạt động một thời gian rồi, chính quyền mới ban hành luật để “hướng dẫn” nó hoạt động theo một hướng nào đó. Để phân biệt, xin gọi cái này là luật “hướng dẫn thực tại”. Ở ta, chợ không tự phát, chính quyền ban hành luật để lập ra nó. Khi soạn luật cho việc này, người soạn thảo có một quan điểm: Cái chợ phải làm sao, sắp xếp và quản trị như thế nào?… Luật lập nên cái chợ và “thúc đẩy” mọi người  phải tuân theo. Luật đó “thúc đẩy thực tại”. Vì vậy, luôn luôn ở chương cuối của các văn bản quy phạm pháp luật đều có các điều khoản thưởng và phạt. Do tính chất “thúc đẩy” của luật nên ít ai hỏi rằng, để cai trị dân thì luật pháp phải như thế nào? Làm sao để luật pháp đi vào cuộc sống? Làm sao để người dân tin tưởng vào luật pháp?

Án lệ và sự áp dụng  Kỳ 2: Vấn đề tạo lập và áp dụng án lệ ở nước ta

Xét xử lưu động một vụ án hình sự (ảnh minh họa)

Trái lại, luật pháp ở các hệ thống khác được ban bố để phục vụ con người. Để đạt được mục đích này thì luật pháp phải đáp ứng một nhu cầu nhân bản của họ. Ấy là làm cho họ được sống trong sự an tâm và tiên đoán được. Chỉ khi nhu cầu ấy được đáp ứng, người ta mới sống, làm việc, tạo ra của cải cho mình và đóng góp cho xã hội. Khi được bảo vệ bằng luật pháp - như là một phương tiện - thì người dân được chăm sóc, và khi được chăm sóc, họ sẽ bảo vệ người đã ban bố các luật đó. Ấy là chế độ, ấy là chính quyền. Sở dĩ những quốc gia đã phát triển về kinh tế được là vì luật pháp của họ đáp ứng nhu cầu kia. Án lệ là một định chế nằm trong các hệ thống tư pháp đó.

Môi trường cho án lệ

Án lệ của HTDL được áp dụng trong một thủ tục tố tụng mà ở đó công lý có điểm dừng. Thủ tục tố tụng ở ta không có tính chất đó. Nó  giống như một hình chữ nhật, trong đó có bốn nấc khác nhau (sơ thẩm quận/huyện - phúc thẩm tỉnh/thành phố - phúc thẩm TANDTC - Hội đồng Thẩm phán (HĐTP). Một vụ án có thể đi lên, đi xuống trong hình chữ nhật đó và có thể kéo dài vài năm chưa kết thúc. Thủ tục tố tụng của HTDL khác hẳn. Nó giống như một hình tam giác, cũng có các nấc, nhưng vụ án lên đến nấc trên cùng là ngừng. Công lý có điểm dừng. Án lệ là một định chế trong hình tam giác. Nó là sản phẩm của hình tam giác này đem nó sang hình chữ nhật nguyên xi thì có thể là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Cho nên, phải có những sự thay đổi trong hình chữ nhật, các biện pháp cần làm sẽ phải nhiều hơn những thứ nêu trong quyết định. Thí dụ, về mặt tâm lý, khi Thẩm phán áp dụng án lệ cho vụ án của mình thì họ có còn độc lập xét xử không? Thứ nữa, sự độc lập xét xử của Thẩm phán được nhìn trên căn bản nào: Hai cấp Tòa xét xử hay từng cá nhân Thẩm phán?

Dù ở trong Quyết định, TANDTC có đề cập đến việc sửa đổi Hiến pháp, cho phép TANDTC ban hành án lệ; sửa đổi Luật Tổ chức TAND năm 2002 để nơi này được ban hành án lệ và cuối cùng là Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND quy định Thẩm phán có nghĩa vụ áp dụng án lệ. Song, những việc ấy chưa đủ vì công lý phải có điểm dừng. Muốn được như thế thì phải làm thêm nữa, thí dụ:

- Luật tố tụng: Sửa đổi về (i) giá trị của các chứng cứ; (ii) buộc các bên phải đưa ra hết mọi bằng chứng ở cấp sơ thẩm; (iii) cấp sơ thẩm ra bản án dựa trên luật pháp và sự kiện; (iiii) cấp phúc thẩm không xem những vấn đề về sự kiện, chỉ xem xét các vấn đề về pháp lý.

- Luật cho luật sư: Các luật sư phải trao đổi các bản trình bày/lập luận cho nhau khi nộp bản ấy lên Tòa. Ngày xưa ở Sài Gòn gọi là thông tri cho nhau. Ở Mỹ, Pháp… người ta cũng làm như thế. Khi luật sư không dấu bằng chứng ở Tòa sơ thẩm thì Tòa phúc thẩm mới chỉ xem xét về sự áp dụng luật. Nếu Tòa sơ thẩm áp dụng sai thì bản án sẽ bị hủy. Khi ấy, Tòa phúc thẩm mới có một uy lực với Tòa cấp dưới, buộc họ phải dùng án lệ, nếu có.

Nơi tạo lập các bản án mà sẽ dùng làm án lệ

Án lệ là sự áp dụng một bản án chung thẩm đã tuyên. Khi một bản án được áp dụng thì bản án đó trở thành án lệ. Vậy, đó là việc áp dụng bản án chứ không phải việc viết ra bản án. 50 bản án chung thẩm được tuyên, nhưng có thể chỉ có 30 bản án trở thành án lệ. Có trở thành án lệ hay không thì tùy ở Tòa cấp dưới hay Tòa đi sau, có áp dụng hay không. Cho nên, TANDTC cứ tuyên án mà không bó buộc bản án phải trở thành án lệ như bản Quyết định đề ra. Theo Quyết định thì các bản án được dùng làm án lệ là các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC, của các Tòa chuyên trách. TANDTC tập hợp các bản án (không nói là chung thẩm) để HĐTP của TANDTC thông qua. Và, tuyển tập án lệ sẽ được ban hành. Đây là giải pháp của ta.

Ở các nước khác, Tòa phúc thẩm tuyên án chung thẩm chứ không phải Tòa án tối cao. Bình thường, Tòa sơ thẩm xử xong, các bên tranh chấp thường kháng cáo lên Tòa phúc thẩm. Khi các bản án của Tòa phúc thẩm thành chung thẩm thì một số có cơ hội trở thành án lệ. Các Thẩm phán sơ thẩm có thể dẫn chiếu án lệ của Tòa phúc thẩm ngay. Hiện, ta có hơn 60 Tòa phúc thẩm nên phải áp dụng chế độ tuyển tập. Tuy nhiên, khi chỉ có các bản án giám đốc thẩm của TANDTC hay Tòa chuyên trách mới trở thành án lệ thì số lượng bản án bị giám đốc thẩm sẽ ít so với các bản án bị phúc thẩm. Vì thế, tài liệu cho các Thẩm phán sơ thẩm tham khảo hay dẫn chiếu sẽ không có nhiều. Tuyển tập cần thu nhận các bản án chung thẩm của các Tòa phúc thẩm. 

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật